Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những khái niệm về lập địa Theo Đỗ Thanh Hoa, (1993)[13] có liệt kê các khái niệm về lập địa, như: Lập địa tiếng Anh là site, tiếng Pháp là Station, tiếng Đức là Srandort đây là từ ghép của stand và ort có nghĩa là hoàn cảnh tự nhiên ở một địa phương hay địa bàn cụ thể. Ở Việt Nam dùng theo phiên âm Hán - Việt là lập địa. Theo Đỗ Thanh Hoa, (1993) trích dẫn nghiên cứu của Sucasov một chuyên gia phân loại rừng ở miền Bắc Liên Xô (cũ), nay là Liên bang Nga cho rằng: Kiểu điều kiện lập địa là tập hợp những khoảnh đất có khả năng xuất hiện những thực vật giống nhau, nghĩa là ở phức hệ giống nhau về các yếu tố tự nhiên như khí hậu, đất đai.[13] Trong giáo trình trồng rừng - Trường Đại học Lâm nghiệp có định nghĩa về lập địa như: Lập địa là hoàn cảnh nội bộ của rừng ở đây bao gồm khí hậu và thổ nhưỡng, giới hạn dưới của nó là tầng đất mà rễ cây có thể đạt được, giới hạn biên giới bên trên của tán cây, đồng thời phải hiểu là biên giới này không rõ rệt.
Không những thế, hoàn cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài của rừng còn có ảnh hưởng tương hỗ, chuyển hoá lẫn nhau; các nhà lâm nghiệp nên hiểu lập địa ở nghĩa rộng về cấp độ phì của sinh thái học là độ phì khí hậu và độ phì thổ nhưỡng.[9] Đỗ Thanh Hoa trích dẫn khái niệm Walter (1925): Lập địa là tất cả các yếu tố ngoại cảnh thường xuyên tác động đến sinh trưởng và phát triển của thực vật. Theo tác giả cho rằng: Lập địa bao gồm tất cả các yếu tố như: khí hậu, địa hình, sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật) tạo thành một quần lạc sinh địa. Tất cả các yếu tố trong quần lạc sinh địa có ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau và phụ thuộc vào nhau, trong đó con người có vai trò đặc biệt quan trọng.[13] 5 Nguyễn Văn Khánh, (1996)[17] khi nghiên cứu về lập địa đã đưa ra khái niệm như: Lập địa bắt đầu từ khái niệm phát sinh và mang tính khu vực, không gian thuộc về một lãnh thổ bất kỳ bắt đầu từ toàn bộ trái đất và kết thúc ở một khoảnh nhỏ bé. Tình nghiên cứu lập địa trên thế giới và Việt Nam 1.Trên thế giới Những hiểu biết của nông dân thế giới về đất trải qua hàng chục thế kỷ là những thông tin quý báu.
Những thông tin này được bổ sung uyên bác của các nhà khoa học, tạo sự phát triển từng bước, để ra đời nhiều công trình nghiên cứu về đất, đặc biệt là những nghiên cứu về đánh giá đất và phân chia lập địa đã giúp con người hiểu và nắm được về khoa học đất, từ đó họ có thể quản lý sử dụng đất đai ngày một hiệu quả hơn[18]. Kauritrev và Gretrin (1969)[38] có trích dẫn nghiên cứu của Pogrebnhiac (Ucraina - 1962) một chuyên gia đã phân chia lập địa làm cơ sở cho trồng rừng và xác định các kiểu rừng dựa trên 2 tiêu chí chính là độ phì và độ ẩm của đất. Độ phì được chia làm 4 cấp: Mỗi nhóm ứng với một kiểu rừng nhất định (Thông, Bạch dương.) và biểu thị bằng chữ cái A, B, C, D. Độ ẩm chia làm 6 cấp từ khô đến đầm lầy và biểu thị bằng các chữ số: rất khô (0), khô (1), ẩm vừa (2), ẩm (3), ướt (4) và đầm lầy (5).
Việc xác định độ phì có thể dựa vào tác dụng chỉ thị của tầng cây gỗ do chúng có bộ rễ ăn sâu và quan hệ chặt chẽ với độ phì của đất, còn độ ẩm dựa vào lớp thảm tươi do chúng nhạy cảm với sự thay đổi của độ ẩm.A (1972)[37] trích dẫn nghiên cứu của Trectov (1981) về 3 yếu tố: Đá mẹ hình thành đất, địa hình, chế độ thoát nước phản ánh tiềm năng sản xuất của lập địa và tác động tổng hợp thông qua sự hình thành các kiểu mùn được hình thành ở vùng Đông Bắc Liên Xô (cũ), mối quan hệ các kiểu mùn hình thành với tác động của con người và năng suất của lâm phần. 6 Theo ông chính các kiểu mùn rừng là thực tại của các lập địa trong một sinh khí hậu nhất định phân loại lập địa được phân chia như sau: - Nhóm lập địa dựa vào điều kiện thoát nước để phân chia. - Nhóm phụ lập địa dựa vào điều kiện thoát nước và đá mẹ hình thành đất để phân chia. - Kiểu lập địa dựa vào 3 yếu tố trên: Điều kiện thoát nước, đá mẹ hình thành đất và địa hình.
Với điều kiện thoát nước Trectov phân chia thành 6 kiểu như: Bảng 1.1: Phân chia điều kiện thoát nước của Trectov Thoát nước mạnh Độ ẩm đất thường rất khô và khô Thoát nước bình thường Độ ẩm đất thường ẩm vừa Thoát nước không tốt Độ ẩm đất thường Thoát nước kém Độ ẩm đất ướt Tạo thành dòng chảy rất yếu Đất rất ẩm ướt Tạo thành dòng chảy yếu Đất ướt Đỗ Thanh Hoa, 1993 trích dẫn những nghiên cứu của Đức, trong đó tiêu biểu với các tác giả: H.2: Bốn đơn vị lập địa cơ bản của H. Nerber Đơn vị cảnh quan tự nhiên Đơn vị khí hậu Đơn vị lập địa Đại cảnh quan Vùng khí hậu Vùng sinh trưởng Cảnh quan (riêng rẽ) Dạng khí hậu Khu sinh trưởng Bộ phận cảnh quan Dạng khí hậu Phạm vị bức khảm Cảnh quan cơ sở Dạng khí hậu địa hình Dạng lập địa Đỗ Thanh Hoa, 1993[13] cũng trích dẫn về nghiên cứu lập địa của nhà khoa học Trung Quốc, Dương Kế Cảo và các cộng sự cho thấy: Áp dụng 7 phương pháp điều tra và phân vùng lập địa ở một số nơi thuộc Đông Bắc Trung Quốc (vùng Thái Hoàng Sơn, rộng khoảng 100.000 km2), các tác giả đưa ra 6 cấp phân vị để điều tra: (i) Cấp khu lập địa (Site region); (ii) Cấp á khu lập địa (Site subregion): Phân chia sự khác nhau của khí hậu có sự tham gia của địa mạo và thực vật; (iii) Cấp tiểu khí hậu lập địa (Site type district): Phân chia theo địa mạo và nham thạch; (iv) Nhóm kiểu lập địa (Group of site type): Phân chia theo độ cao tuyệt đối, hướng dốc, vị trí dốc, độ dốc (dưới 150 và trên 150); (v) Kiểu lập địa (Site types): Phân chia theo độ dày tầng đất mặt (dưới 15 cm và lớn hơn hoặc bằng 30 cm), chất đất (sét, thịt pha cát, cát); (vi) Kiểu phụ lập địa (Site type variety): Phân chia theo độ dày tầng đất mặt (dưới 15 cm và lớn hơn hoặc bằng 15 cm), độ pH (chua nhỏ hơn 6,5; trung tính từ 6,5 ÷ 7,5; kiềm lớn hơn 7,5), nước ngầm (nông: nhỏ hơn 0,5 m; trung bình 0,5 ÷ 1,5 m; sâu: Lớn hơn 1,5 m). Ở Việt Nam Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu phân chia lập địa, như: 1. Phân chia lập địa cấp vĩ mô và trung gian Đỗ Thanh Hoa, 1993 [13] cho rằng: Từ những năm 1961 trong công tác thiết kế trồng rừng, chúng tôi đã phân chia lập địa (điều tra lập địa cấp 1) theo hướng dẫn của Lơman, nguyên tắc phân chia của Lơman dựa vào các yếu tố khí hậu, địa hình và đất để phân chia.
Sau Lơman, ở Việt Nam có rất nhiều nhà khoa học nước ngoài phân chia lập địa, trong đó đặc biệt có Schwanecker, 1971, ông đã xây dựng được quy trình tạm thời về điều tra lập địa lâm nghiệp Việt Nam. Đỗ Đình Sâm, 1990 [25] trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt chế độ khô hạn vào mùa khô ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của rừng và hình thành các kiểu rừng khác nhau nên đã đề xuất tiêu chí mức độ khô hạn mùa khô, cùng mức độ thoát nước để xác định nhóm lập địa ở Việt Nam. Mức độ khô hạn được chia làm 4 cấp: Rất khô, khô, ẩm và ẩm 8 thường xuyên, dựa trên chế độ nhiệt ẩm, đai cao so với mặt biển, đặc điểm đất, địa hình. Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên ở Việt Nam, Vũ Cao Thái và Nguyễn Văn Khánh, 1997[17] đề xuất một hệ thống phân cấp lập địa lâm nghiệp cho toàn quốc gồm: - Miền lập địa: Là một lãnh thổ khép kín được đặc trưng bới một chế độ nhiệt riêng, trong đó có hay không có mùa đông lạnh (mùa đông lạnh là mùa đông có số tháng ở đó nhiệt độ bình quân dưới 200C) là dấu hiệu để phân chia; - Á miền lập địa: Là một lãnh thổ khép kín, có đặc trưng của miền lập địa là chế độ nhiệt đồng thời còn có đặc trưng riêng của á miền, đó là thời gian mưa (mùa mưa) trong năm; - Vùng lập địa: Là một lãnh thổ khép kín được phân ra từ á miền lập địa.
Vùng lập địa là kết quả đan xen của một vùng địa mạo, một vùng khí hậu, trong đó miền Bắc lấy trường độ và cường độ lạnh làm dấu hiệu phân chia, miền Nam lấy trường độ và cường độ khô hạn làm dấu hiệu phân chia. - Tiểu vùng lập địa: Là một vùng lãnh thổ khép kín được phân ra từ vùng lập địa mang các đặc trưng chung của các cấp phân vị trên nó, đồng thời mang đặc trưng riêng của nó, đó là tổng hợp của một kiểu địa hình, một kiểu khí hậu và một nhóm đất chính hoặc phụ, trong đó kiểu khí hậu bao gồm 4 yếu tố: Nhiệt độ bình quân năm, nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất, lượng mưa năm và số lượng tháng khô hạn. - Dạng đất đai: Là cấp trung gian giữa tiểu vùng lập địa và cấp dạng lập địa (đơn vị cơ sở của lập địa), dạng đất đai được chia nhỏ ra từ kiểu vùng lập địa bởi thêm vào kiểu địa hình, yếu tố độ dốc (cấp độ dốc) hoặc thoát nước, thêm vào nhóm đất chính hoặc phụ, cấp độ dày tầng đất hoặc cấp thành phần cơ giới. - Dạng lập địa: Là đơn vị cơ sở của lập địa có khí hậu của tiểu vùng lập địa, được đặc trưng bởi một đơn vị địa mạo thấp nhất (chân, sườn, đỉnh.) một 9 bậc độ dốc, một đơn vị thổ nhưỡng thấp nhất (Thổ chủng hoặc biến chủng) và bao chiếm một diện tích nhất định.