Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng và sản lượng mủ của rừng trồng cao su hevea brasiliensis tại tỉnh lai châu

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng và sản lượng mủ của rừng trồng cao su hevea, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

205
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Khái niệm lập địa

1.3. Nghiên cứu về sinh trưởng và sản lượng cây rừng

1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng, năng suất cây rừng và sản lượng mủ cây cao su

1.5. Nghiên cứu về lập địa

1.6. Nghiên cứu về sinh trưởng và sản lượng cây rừng

1.7. Nghiên cứu ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng, năng suất cây rừng

1.8. Nghiên cứu về cây cao su

1.9. Xuất xứ và quá trình di nhập

1.10. Đặc điểm thực vật học

1.11. Đặc điểm sinh thái và yêu cầu về lập địa

1.12. Sinh trưởng và sản lượng mủ cao su

1.13. Ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng và sản lượng mủ cao su

1.14. Một số kết luận

1.15. Kết luận chung

1.16. Những vấn đề tồn tại

1.17. Những vấn đề cần giải quyết trong khuôn khổ luận án

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Đặc điểm một số yếu tố lập địa tại tỉnh Lai Châu

2.3. Nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng mủ cao su tại tỉnh Lai Châu

2.4. Ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng và sản lượng mủ của rừng trồng cao su tại tỉnh Lai Châu

2.5. Bước đầu phân chia lập địa thích hợp cho trồng rừng cao su trên đất lâm nghiệp tại tỉnh Lai Châu

2.6. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật trồng cây cao su trên đất lâm nghiệp tại tỉnh Lai Châu

2.7. Phương pháp nghiên cứu

2.8. Quan điểm và phương pháp luận

2.9. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm một số yếu tố lập địa tại tỉnh Lai Châu

3.2. Đặc điểm khí hậu

3.3. Đặc điểm địa hình

3.4. Tình hình sinh trưởng của cao su tại tỉnh Lai Châu

3.5. Thực trạng gây trồng và phát triển

3.6. Sinh trưởng và sản lượng mủ của rừng trồng cao su tại tỉnh Lai Châu

3.7. Ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng của rừng trồng cao su tại tỉnh Lai Châu

3.8. Ảnh hưởng của các yếu tố đơn lẻ đến sinh trưởng của rừng trồng cao su

3.9. Ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố lập địa đến sinh trưởng và sản lượng mủ cao su tại tỉnh Lai Châu

3.10. Bước đầu phân vùng lập địa thích hợp trồng rừng cao su trên đất lâm nghiệp tại tỉnh Lai Châu

3.11. Đề xuất một số giải pháp phát triển cây cao su tại tỉnh Lai Châu

3.12. Quy hoạch đất trồng cao su

3.13. Chọn lập địa trồng cao su

3.14. Giải pháp kỹ thuật

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng lập địa đến sinh trưởng cao su

Nghiên cứu tập trung phân tích ảnh hưởng lập địa đến sinh trưởng cao su tại tỉnh Lai Châu. Các yếu tố lập địa như địa hình, khí hậu, và đất đai được đánh giá chi tiết. Kết quả cho thấy, địa hình dốc và khí hậu lạnh mùa đông là những yếu tố hạn chế chính. Hevea brasiliensis tại Lai Châu có tốc độ sinh trưởng chậm hơn so với các vùng khác do điều kiện tự nhiên không thuận lợi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các khu vực có độ cao dưới 600m và độ dốc thấp phù hợp hơn cho trồng cao su.

1.1. Đặc điểm địa hình và khí hậu

Địa hình Lai Châu chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn, chiếm 85% diện tích. Khí hậu lạnh vào mùa đông, nhiệt độ trung bình năm dao động từ 18-22°C. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng cao su, làm chậm quá trình phát triển của cây. Các khu vực có độ cao trên 600m và độ dốc lớn không phù hợp cho trồng cao su do nhiệt độ thấp và nguy cơ sương muối.

1.2. Đặc điểm đất đai

Đất tại Lai Châu chủ yếu là đất đỏ vàng, có độ phì nhiêu trung bình. Tuy nhiên, độ dày tầng đất không đồng đều, ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây cao su. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các khu vực có tầng đất dày hơn 50cm và độ phì nhiêu cao hơn giúp cây cao su sinh trưởng tốt hơn.

II. Sản lượng mủ cao su và các yếu tố ảnh hưởng

Nghiên cứu đánh giá sản lượng mủ cao su tại Lai Châu và các yếu tố ảnh hưởng. Kết quả cho thấy, sản lượng mủ cao su phụ thuộc nhiều vào điều kiện lập địa và kỹ thuật trồng. Các khu vực có nhiệt độ ổn định và lượng mưa phù hợp cho sản lượng mủ cao hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc áp dụng kỹ thuật trồng cao su phù hợp có thể cải thiện đáng kể sản lượng mủ.

2.1. Ảnh hưởng của khí hậu

Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng mủ cao su. Nhiệt độ trung bình năm từ 22-26°C và lượng mưa từ 1.500-2.000mm là điều kiện lý tưởng. Tại Lai Châu, nhiệt độ thấp vào mùa đông làm giảm sản lượng mủ, đặc biệt là ở các khu vực có độ cao trên 600m.

2.2. Kỹ thuật trồng và quản lý

Việc áp dụng kỹ thuật trồng cao su phù hợp như chọn giống, bón phân, và quản lý vườn cây có thể cải thiện sản lượng mủ. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp như tăng cường bón phân hữu cơ và quản lý chặt chẽ quy trình khai thác mủ để đạt hiệu quả cao nhất.

III. Phân vùng lập địa và giải pháp phát triển

Nghiên cứu đề xuất phân vùng lập địa thích hợp cho trồng cao su tại Lai Châu. Các khu vực có độ cao dưới 600m, độ dốc thấp, và đất đai màu mỡ được xác định là phù hợp nhất. Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp kỹ thuật như cải tạo đất, chọn giống phù hợp, và quản lý vườn cây hiệu quả để nâng cao năng suất cao su.

3.1. Phân vùng lập địa

Nghiên cứu phân chia lập địa thành ba cấp độ: phù hợp, hạn chế, và không phù hợp. Các khu vực phù hợp có độ cao dưới 600m, độ dốc dưới 15°, và đất đai màu mỡ. Các khu vực hạn chế cần cải tạo đất và áp dụng kỹ thuật trồng phù hợp.

3.2. Giải pháp kỹ thuật

Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất bao gồm cải tạo đất, chọn giống phù hợp, và quản lý vườn cây hiệu quả. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo nông dân về kỹ thuật trồng và khai thác cao su để đạt hiệu quả kinh tế cao.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng và sản lượng mủ của rừng trồng cao su hevea brasiliensis tại tỉnh lai châu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Khái niệm lập địa Theo các nhà lập địa Đức thì lập địa được hiểu là một phạm vi địa hình nhất định với tất cả những yếu tố của ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cối. Khi thống nhất phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của thực vật rừng với các yếu tố khí hậu, địa hình, đất mà không chú ý đến yếu tố địa lý (phương pháp phân kiểu lập địa) và phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa thực vật rừng và lập địa trong một không gian nhất định (phương pháp phân vùng lập địa), ngành lâm nghiệp Đức đã đưa ra một phương pháp điều tra lập địa tổng hợp phục vụ sản xuất lâm nghiệp.Schwanecker (1971), trên cở sở thuyết lâm hình của Suchaev (1958) đã đưa ra khái niệm cụ thể về lập địa như sau [35], [90]: * Các yếu tố tĩnh: Sinh thái cảnh - Khí hậu.

Ở Ucraina, Pogrebnhiac (1968), cho rằng kiểu lập địa bao gồm mọi khu đất có điều kiện đất đai giống nhau kể cả nơi có rừng và nơi không có rừng; dựa trên 2 tiêu chí cơ bản là độ phì và độ ẩm của đất, trong đó độ phì được chia làm 4 cấp còn độ ẩm được chia thành 6 cấp đã phân được 24 kiểu lập địa. Theo Blaglovidop và Buadop (1958), Tretop (1981) thì nền lập địa ở vùng Sankt-Peterburg lại được phân chia dựa vào các yếu tố: đá mẹ hình thành đất, địa hình và chế độ thoát nước [55], [54], [58], [65]. Như vậy có thể hiểu: Lập địa là một phạm vi lãnh thổ nhất định với tất cả những yếu tố của ngoại cảnh ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây cối. Lập địa theo nghĩa hẹp bao gồm 3 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và theo nghĩa rộng bao gồm 4 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và thế giới động thực vật.

Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài xác định các yếu tố cấu thành lập địa phục vụ công tác quy hoạch, kế hoạch và gây trồng, phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh Lai Châu, bao gồm: (i) Điều kiện khí hậu (nhiệt độ trung bình năm, độ ẩm trung bình năm, lượng mưa trung bình năm); (ii) Điều kiện địa hình (độ cao, độ dốc); và (iii) Điệu kiện đất (độ dày tầng đất, loại đất). Nghiên cứu về sinh trưởng và sản lượng cây rừng Nghiên cứu về sinh trưởng và sản lượng rừng là một vấn đề mà được rất nhiều nhà lâm nghiệp trên thế giới đặc biệt quan tâm. Việc thành lập những ô định 20 vị từ thế kỷ XIX đã tìm ra những hệ thống các biểu sinh trưởng phục vụ đắc lực trong việc quản lý, dự đoán, lập kế hoạch trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp. Sinh trưởng của cây rừng là kết quả của quá trình đồng hóa những nguồn năng lượng của môi trường dưới ảnh hưởng của các quy luật vận động nội tại cũng như mối quan hệ giữa các nhân tố nội tại với các nhân tố ngoại cảnh trong suốt thời gian tồn tại tự nhiên của chúng và là cơ sở chủ yếu để đánh giá sức sản xuất của lập địa, điều kiện tự nhiên cũng như hiệu quả của các biện pháp tác động đã áp dụng [22], [23].

Sản lượng có thể được hiểu là kích thước của một hoặc nhiều cá thể trong lâm phần tại thời điểm nào đó hoặc là lượng gỗ của lâm phần có thể cho thu hoạch từ thời điểm trồng đến thời điểm xác định. Chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá sản lượng lâm phần là trữ lượng (m3/ha) tại tuổi xác định. Như vậy, sản lượng chính là tổng tăng trưởng hàng năm của lâm phần về một số đại lượng nào đó, như trữ lượng trên hécta tại tuổi A, tổng tiết diện ngang trên hécta tại tuổi A, lượng mủ khai thác được (đối với loài lấy mủ) trên hécta tại tuổi A, trong đó trữ lượng được sử dụng rộng rãi hơn cả, vì đại lượng này phản ánh tổng hợp năng suất của lâm phần [24].Bertalanfly (1951) (dẫn theo Vũ Minh Đức [19]), sinh trưởng là sự lớn lên của cơ thể thông qua sự đồng hóa. Về phương diện toán học, sinh trưởng của rừng được hiểu như một hàm số phụ thuộc vào nhiều biến số: tuổi cây (A), các đặc trưng về nhiệt độ (TT), lượng mưa (VL), ẩm độ (W), lượng bức xạ (BX), dinh dưỡng khoáng trong đất (NPK), mật độ của cây rừng (N), và được biểu diễn dưới dạng phương trình: Y = f(A, TT, VL, W, BX, NPK, N,…) Trong đó f là dạng phương trình toán học thích hợp được xác định bởi các phương pháp thống kê và phù hợp với các đặc tính sinh học của cây rừng.

Nếu như đồng nhất các yếu tố hoàn cảnh thì hàm số trên chỉ còn phụ thuộc vào tuổi (A). Cho đến nay, nhiều nhà khoa học lâm nghiệp trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu với sự ứng dụng rộng rãi thống kê toán học để tìm ra các hàm toán học thích 21 hợp cho việc mô tả quá trình sinh trưởng của các loài cây rừng ở các vùng sinh thái khác nhau trên các châu lục. Tuy nhiên, các hàm toán học hay các hàm sinh trưởng được tìm ra chỉ thích hợp với một số loài cây ở một vùng sinh thái cụ thể nào đó. Với tất cả loài cây khác nhau ở các vùng sinh thái khác nhau, các hàm toán học này có phù hợp hay không cần có những nghiên cứu ứng dụng và kết luận về mức độ phù hợp của chúng [21].

Khi nghiên cứu về suất sinh trưởng ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển ở rừng mưa nhiệt đới, Richards cho rằng "Suất sinh trưởng của một cây gỗ trong mọi giai đoạn phát triển của nó đều do hai nhóm nhân tố quyết định là điều kiện hoàn cảnh và tính di truyền. Tính di truyền biến đổi từ loài cây này sang loài cây khác" [50]. Walter, ứng dụng phân tích hệ thống đối với sinh thái học được biết dưới tên gọi hệ sinh thái và đã trở thành một môn khoa học. Mọi hệ toán học trong sinh thái được gọi là mô hình, vì nó là hình ảnh không đầy đủ và trừu tượng của thế giới thực tại.

Mục đích của các mô hình toán học được xây dựng là để dự đoán sự thay đổi của hệ sinh thái. Các mô hình sinh thái thường phức tạp nên phải được nghiên cứu chủ yếu nhờ vào sự mô hình hóa bằng máy tính [46]. Mô hình hồi quy tuyến tính: Một sự mô tả về mối quan hệ giữa hai biến x và y mà không thể xác định được bằng mối quan hệ hàm số y =f(x), có thể xác định được bởi mô hình xác suất. Dạng tổng quát của một mô hình xác suất cho phép y lớn hơn hoặc nhỏ hơn hàm f(x) một độ lệch tự do e nào đó.

Phương trình mô hình có dạng y =f(x) +e [104]. Nếu một phương pháp nghiên cứu yêu cầu một mối quan hệ tuyến tính giữa hai biến thì cần thiết phải chuyển dạng một trong hai hoặc cả hai biến để thỏa mãn yêu cầu này [96]. Kiểu mô hình được mô tả dưới dạng biểu thức toán học thường được sử dụng nhiều nhất trên máy tính, nó được phát triển để diễn tả đúng đắn về sinh vật và ứng dụng trong sinh thái học [111]. Để xây dựng các mô hình hồi quy đa biến, các nhà khoa học lâm nghiệp trên thế giới đã thử nghiệm rất nhiều dạng phương trình toán học và qua đó đề xuất một số hàm tương đối đặc trưng để mô tả quy luật về sinh trưởng và sản lượng rừng cho 22 một số loại rừng cụ thể.

Theo đó, đối với rừng trồng thuần loài người ta thường sử dụng những hàm: (i) Hàm Thomasius (1978) có dạng: y=a 0(1-e-bt), trong đó: y là chỉ tiêu sinh trưởng, a0 = ymax là chỉ tiêu sinh trưởng lớn nhất, e là cơ số Neper, b là tham số phương trình phụ thuộc vào loài cây, t là tuổi rừng; (ii) Hàm Michailov có dạng: y=a.e-b/t, trong đó: y là chỉ tiêu sinh trưởng, a và b là tham số của phương trình phụ thuộc vào loài cây, t là tuổi rừng; (iii) Hàm Wenk có dạng: log(lm) = a 0 + a1logt + a2loghg + a3logG +a4log2G, trong đó: lm là tăng trưởng về trữ lượng rừng, t là tuổi rừng, hg là chiều cao bình quân của cây rừng theo cây bình quân tiết diện ngang, G là tổng tiết diện ngang của rừng [75]. Nghiên cứu ảnh hưởng của lập địa đến sinh trưởng, năng suất cây rừng và sản lượng mủ cây cao su Tổng kết các nghiên cứu ở các nước nhiệt đới, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), 1994 khẳng định khả năng sinh trưởng của rừng trồng phụ thuộc rất rõ vào bốn nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì [15]. Khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau, Pandey (1993) nhận thấy Bạch đàn trắng (Eucalyptus camadulensis) trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thường chỉ đạt năng suất từ 5-10 m 3/ha/năm, nhưng ở vùng nhiệt đới ẩm có thể đạt 30m 3/ha/năm. Như vậy, với điều kiện lập địa khác nhau thì sinh trưởng và năng suất của rừng trồng cũng khác nhau rõ rệt [117].

Các nhân tố hoàn cảnh đơn lẻ: Phương pháp này thường sử dụng những nhân tố hoàn cảnh vật lý có tính ổn định, có quan hệ mật thiết với sinh trưởng và năng suất của cây rừng, như: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng. Các học giả Nhật Bản đã áp dụng hệ thống phân loại đất của Mỹ, của UNESCO và phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố hoàn cảnh đơn lẻ với sinh trưởng và năng suất của cây rừng tại Philippines [43]. (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của khô hạn đến sinh trưởng của cao su bằng việc so sánh các phản ứng quang hợp của hai dòng vô tính (RRIM600 và FX3864) có khả năng chịu được hạn hán. Nghiên cứu đã loại 23 bỏ hoàn toàn việc tưới nước cho đến khi tiềm năng nước của lá (Ψw) đạt đến giá trị tới hạn ở thời điểm 38 ngày sau khi thiếu nước đối với cả hai dòng cao su.

Kết quả cho thấy dòng FX3864 nhạy cảm hơn với hạn hán so với dòng RRIM600 có lợi thế về sinh trưởng hơn, có độ ổn định và hiệu quả hơn ở các khu vực có lượng mưa thấp [105].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu "Ảnh hưởng lập địa đến sinh trưởng và sản lượng mủ cao su Hevea brasiliensis tại Lai Châu" tập trung phân tích các yếu tố môi trường, đất đai và khí hậu tác động đến quá trình phát triển và năng suất mủ của cây cao su tại khu vực này. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về điều kiện lập địa tối ưu cho cây cao su mà còn đưa ra các khuyến nghị cụ thể để cải thiện sản lượng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà khoa học và nông dân trong lĩnh vực trồng trọt và quản lý tài nguyên.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất trên địa bàn huyện võ nhai tỉnh thái nguyên, nghiên cứu về các giải pháp quản lý rừng bền vững. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu chí phân vùng thích nghi đất đai ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất lúa và rau màu nghiên cứu cụ thể trong điều kiện tỉnh an giang cung cấp góc nhìn sâu hơn về việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn điều tra thành phần bệnh hại cây con ở giai đoạn vườn ươm và đề xuất biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp tại thái nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý dịch bệnh trong trồng trọt.