Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Kôn - Hà Thanh thuộc tỉnh Bình Định có tổng diện tích tự nhiên 3.809 km2, là không gian sinh sống và phát triển kinh tế của hơn 1,719 triệu người, chiếm 71,8% dân số toàn tỉnh. Do đặc điểm địa hình dốc đứng từ sườn Đông dãy Trường Sơn đổ nhanh ra biển Đông, lượng mưa mùa lũ kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 tập trung tới 70% đến 77% tổng lượng mưa cả năm. Điều này thường xuyên gây ra các đợt lũ lụt khốc liệt cho vùng hạ du, tiêu biểu như trận lũ lịch sử năm 1987 với lưu lượng đỉnh đo được đạt 6.340 m3/s tại trạm Bình Tường. Nhằm khai thác nguồn nước và phòng chống thiên tai, nhiều công trình thủy lợi, thủy điện quy mô lớn đã được xây dựng trên lưu vực, trong đó có 6 hồ chứa sở hữu dung tích từ 30 triệu m3 trở lên như hồ Định Bình (dung tích toàn bộ 226 triệu m3), Núi Một (111 triệu m3), Vĩnh Sơn B (97 triệu m3) và Trà Xom 1 (39,5 triệu m3).

Tuy nhiên, trước đây các công trình này chủ yếu vận hành đơn lẻ theo nhiệm vụ riêng của từng đơn vị quản lý, thiếu cơ chế phối hợp điều tiết cắt giảm lũ đồng bộ, dẫn đến nguy cơ ngập lụt nghiêm trọng cho thành phố Quy Nhơn cùng các huyện Tây Sơn, Tuy Phước, An Nhơn như diễn biến đợt lũ năm 2013. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thủy văn học của tác giả Nguyễn Tuấn Anh giải quyết bài toán mô phỏng chế độ vận hành hệ thống hồ chứa thượng nguồn, từ đó đánh giá định lượng tác động xả lũ đến diễn biến ngập lụt hạ du sông Kôn - Hà Thanh. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp cắt giảm từ 15% đến 35% lưu lượng đỉnh lũ tại các vị trí khống chế trọng điểm, hỗ trợ trực tiếp cho việc hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ theo Quyết định số 1462/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng đồng bộ các lý thuyết thủy văn, thủy lực hiện đại và nguyên lý quản lý tài nguyên nước lưu vực:

  1. Lý thuyết dòng chảy không ổn định trong lòng dẫn hở: Vận dụng hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng Saint-Venant một chiều gồm phương trình liên tục bảo toàn khối lượng và phương trình động lượng phản ánh tương tác giữa gia tốc, độ dốc mặt nước và lực cản ma sát đáy sông.
  2. Lý thuyết điều tiết dòng chảy và cân bằng nước hồ chứa: Dựa trên phương trình cân bằng dung tích trữ theo thời gian thực nhằm phân tích khả năng phối hợp trữ lũ trong mùa mưa và xả nước gia tăng dòng chảy mùa cạn.
  3. Các khái niệm cốt lõi: Dung tích phòng lũ chủ động, mực nước đón lũ, mực nước dâng bình thường, mô số đỉnh lũ thiết kế (đạt mức 3,36 m3/s/km2 tại trạm Bình Tường), và chỉ số Nash-Sutcliffe đánh giá độ chính xác của mô hình toán.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Luận văn thu thập chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn hoàn chỉnh trong giai đoạn hơn 35 năm (từ năm 1976 đến năm 2013) tại 11 trạm khí tượng đo mưa và 7 trạm thủy văn chiến lược như Bình Tường, Bình Nghi, Vĩnh Sơn, Diêu Trì, Tân An - Thạnh Hòa, Vân Canh. Dữ liệu hình học lòng dẫn bao gồm 37 mặt cắt thủy lực đo đạc thực tế trên hệ thống sông Kôn - Hà Thanh cùng hồ sơ khảo sát 233 vết lũ lịch sử trên toàn địa bàn.
  • Phương pháp chọn mẫu và phân tích: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, lựa chọn 3 trận lũ điển hình có cấp độ nghiêm trọng gồm trận lũ cực đại năm 1987 (lưu lượng đỉnh 6.340 m3/s), trận lũ năm 2007 và năm 2009 phục vụ quy trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình.
  • Lý do lựa chọn mô hình tính toán: Việc kết hợp bộ đôi phần mềm HEC-ResSim và MIKE 11 mang lại độ chính xác cao nhất cho lưu vực miền Trung. HEC-ResSim cho phép thiết lập linh hoạt các quy tắc vận hành liên hồ chứa đa mục tiêu với bước thời gian tính toán từ 1 giờ đến 24 giờ. MIKE 11 giải quyết trọn vẹn bài toán thủy lực mạng lưới sông phân nhánh phức tạp, chịu ảnh hưởng triều từ đầm Thị Nại, kết hợp công cụ GIS chiết xuất bản đồ ngập lụt chi tiết từ mô hình số độ cao DEM.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Khả năng cắt giảm đỉnh lũ rõ rệt của hệ thống liên hồ: Hồ chứa Định Bình với dung tích hữu ích 209 triệu m3 đóng vai trò then chốt trong việc cắt giảm đỉnh lũ hạ du. Khi vận hành kết hợp với các hồ Trà Xom 1, Núi Một và Thuận Ninh theo phương án đón lũ chủ động, lưu lượng đỉnh lũ tại trạm thủy văn Bình Nghi và Thạnh Hòa giảm được từ 18% đến 32% so với điều kiện tự nhiên chưa có hồ.
  2. Thu hẹp đáng kể phạm vi và mức độ ngập lụt: Kết quả mô phỏng trận lũ năm 2007 cho thấy tổng diện tích ngập lụt vùng hạ lưu sông Kôn - Hà Thanh giảm khoảng 21,5% so với kịch bản lũ tự nhiên. Đáng chú ý, diện tích ngập sâu trên 1,0 m tại các vùng trũng thuộc huyện Tuy Phước và thị xã An Nhơn thu hẹp hơn 28,4%.
  3. Tác động từ việc chuyển dòng liên lưu vực: Lượng nước phát điện chuyển từ công trình An Khê - KaNak trên sông Ba sang sông Kôn đạt trung bình 540 triệu m3 trong mùa kiệt ứng với tần suất bảo đảm 90% (chiếm tới 62% lượng dòng chảy đến hồ An Khê), tạo nguồn bổ sung dòng chảy quý giá nhưng cũng làm tăng áp lực mực nước nền hạ du trong mùa mưa lũ.

Thảo luận kết quả

Các kết quả tính toán chứng minh việc vận hành liên hồ theo quy trình điều phối khoa học mang lại hiệu quả vượt trội so với việc vận hành riêng lẻ từng công trình. Khi các hồ xả nước độc lập, thời điểm xả tràn rất dễ trùng pha với dòng chảy lũ khu giữa sông Kôn, gây ngập úng cực đoan cho vùng ven biển. Việc chủ động hạ thấp mực nước đón lũ trước khi đỉnh lũ xuất hiện đã tạo ra dung tích cắt lũ hữu hiệu, làm chậm pha truyền sóng lũ và giảm áp lực thoát nước ra đầm Thị Nại. Kết luận này hoàn toàn đồng nhất với các công trình nghiên cứu liên hồ trên lưu vực sông Hương và sông Vu Gia - Thu Bồn. Toàn bộ dữ liệu được hệ thống hóa trực quan qua bảng so sánh chỉ số Nash đạt từ 0,82 đến 0,91, các đồ thị quá trình mực nước Z(t), lưu lượng Q(t) tại trạm Thạnh Hòa và hệ thống bản đồ ngập lụt 2D phân tầng theo các độ sâu 0,5 m; 1,0 m; 1,5 m và trên 2,0 m.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Ban hành quy chế phối hợp vận hành liên hồ chi tiết: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoàn thiện cơ chế điều hành giám sát xả lũ thời gian thực đối với 6 hồ chứa lớn trên lưu vực, hướng đến mục tiêu giảm từ 20% đến 25% thiệt hại ngập lụt hạ du giai đoạn 2016 - 2020.
  2. Hiện đại hóa hệ thống trạm quan trắc tự động: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư bổ sung 12 trạm đo mưa tự động chuyên dùng và nâng cấp 3 trạm thủy văn truyền tin vệ tinh, nâng thời gian dự báo cảnh báo lũ sớm trước từ 6 đến 12 giờ cho hạ du trước năm 2018.
  3. Cải tạo mở rộng lòng dẫn và củng cố đê bao: Ban Quản lý dự án Nông nghiệp tỉnh tổ chức nạo vét 20 km lòng sông bị bồi lấp tại các nhánh sông Kôn, mở rộng khẩu độ thoát lũ các cầu cống chính và kiên cố hóa 15 km đê bao trọng điểm bảo vệ đô thị Quy Nhơn trước năm 2022.
  4. Quản lý nghiêm ngặt hành lang thoát lũ: Sở Xây dựng cùng chính quyền các huyện Tuy Phước, Tây Sơn cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ sông, kiểm soát việc san lấp mặt bằng vùng trũng và triển khai mô hình nhà ở tránh lũ vượt mực ngập 1,5 m hoàn thành trong giai đoạn 2017 - 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước và thiên tai: Cán bộ chuyên môn tại Cục Quản lý tài nguyên nước, Sở Nông nghiệp & PTNT Bình Định tham khảo số liệu mô phỏng để ban hành phương án phòng chống lũ và giám sát thực thi quy trình liên hồ.
  2. Ban quản lý và doanh nghiệp vận hành hồ đập: Đơn vị quản lý các hồ chứa Định Bình, Vĩnh Sơn, Núi Một, Trà Xom 1 ứng dụng quy tắc điều phối mực nước đón lũ nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đập đầu mối và tối ưu hóa hiệu quả phát điện.
  3. Kỹ sư tư vấn quy hoạch thủy lợi - thủy điện: Các kỹ sư sử dụng phương pháp luận liên kết HEC-ResSim và MIKE 11 làm tài liệu chuẩn mực khi tính toán thủy lực cho các lưu vực sông dốc khu vực miền Trung.
  4. Giảng viên và học viên chuyên ngành Thủy văn, Kỹ thuật tài nguyên nước: Sử dụng công trình làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu về phương pháp mô hình hóa thủy văn lưu vực và quản lý ngập lụt hạ du.

Câu hỏi thường gặp

  1. Sự kết hợp giữa mô hình HEC-ResSim và MIKE 11 mang lại ưu thế gì? Mô hình HEC-ResSim mô phỏng chính xác thuật toán điều tiết đóng mở cửa van xả lũ của từng hồ chứa ở thượng nguồn, sau đó cung cấp kết quả lưu lượng xả làm dữ liệu biên đầu vào cho MIKE 11 để tính toán thủy lực mạng lưới sông và diện tích ngập lụt hạ lưu.

  2. Hồ Định Bình đóng vai trò như thế nào trong giảm lũ cho hạ du sông Kôn? Hồ Định Bình có dung tích hữu ích lớn nhất lưu vực đạt 209 triệu m3, chiếm hơn 50% tổng dung tích phòng lũ toàn hệ thống, có khả năng trữ phần lớn lượng lũ lớn thượng nguồn và cắt giảm hơn 30% đỉnh lũ tại các trạm khống chế hạ du.

  3. Việc chuyển nước từ hồ An Khê - KaNak ảnh hưởng thế nào đến dòng chảy sông Kôn? Hệ thống chuyển khoảng 540 triệu m3 nước mỗi năm từ sông Ba sang sông Kôn giúp gia tăng đáng kể dòng chảy mùa cạn, nhưng đồng thời làm dâng cao mực nước nền trong mùa mưa, đòi hỏi các hồ sông Kôn phải có quy trình phối hợp xả lũ chặt chẽ hơn.

  4. Vì sao trận lũ năm 1987 được chọn làm căn cứ hiệu chỉnh mô hình? Trận lũ năm 1987 là trận lũ lịch sử có lưu lượng đỉnh đo được lớn nhất trên lưu vực đạt 6.340 m3/s, cung cấp chuỗi số liệu cực trị thực tế để kiểm định độ chính xác và giới hạn an toàn của mô hình tính toán.

  5. Những khu vực nào tại hạ du sông Kôn chịu rủi ro ngập sâu nhất khi có lũ? Các vùng trũng ven sông và ven đầm Thị Nại thuộc huyện Tuy Phước, thị xã An Nhơn và một số phường thấp trũng của thành phố Quy Nhơn là những nơi thường xuyên chịu mức ngập sâu từ 1,0 m đến trên 2,0 m khi xuất hiện lũ lớn.

Kết luận

  • Xây dựng thành công chuỗi mô hình liên hoàn HEC-ResSim và MIKE 11 mô phỏng chính xác chế độ vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Kôn - Hà Thanh.
  • Chứng minh bằng số liệu định lượng việc vận hành liên hồ giúp giảm từ 18% đến 32% lưu lượng đỉnh lũ tại các trạm khống chế Bình Nghi và Thạnh Hòa.
  • Làm giảm trên 21% tổng diện tích ngập lụt vùng hạ du và thu hẹp hơn 28% diện tích ngập sâu trên 1,0 m trong các trận lũ lớn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, khả thi cho giai đoạn 2016 - 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học tin cậy để hoàn thiện và thực thi hiệu quả Quyết định số 1462/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Anh đã cung cấp bộ công cụ mô phỏng toàn diện và bản đồ ngập lụt có độ chính xác cao cho lưu vực sông Kôn - Hà Thanh. Các đơn vị quản lý cần sớm tích hợp các kịch bản điều hành này vào hệ thống hỗ trợ ra quyết định thời gian thực nhằm bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân tỉnh Bình Định. Hãy liên hệ với cơ sở đào tạo để tiếp cận toàn văn luận văn và dữ liệu mô hình chi tiết.