CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong điều kiện tốc độ xây dựng phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đặc biệt là các thành phố lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hà Nội, Thành phố Hải Phòng,…tình trạng xây chen và thi công hố đào sâu ngày càng phổ biến. Đặc biệt, không chỉ nhà cao tầng mà các nhà ở hiện nay cũng có nhu cầu làm tầng hầm nhằm mục đích tận dụng tối đa diện tích xây dựng, mở rộng và nâng cao sự tiện nghi của không gian sống. Từ đó, có thể thấy việc ổn định hố đào sâu là rất cần thiết và quan trọng trong quá trình thi công và xây dựng công trình phần ngầm.Trong quá khứ, đã có nhiều sự cố xảy ra vì không kiểm soát được vấn đề ổn định hố đào sâu và gây ra các sự cố sập hố đào, gây thiệc hại cho chính công trình đang thi công và các công trình lân cận.
Cụ thể, vào năm 2007 xảy ra sự cố tòa nhà Pacific (Hình 1.1a), toàn bộ văn phòng của viện khoa học xã hội khu vực phía Nam, số 49 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đột ngột bị sập khi công trình bắt đầu thi công sàn tầng hầm hay vào năm 2013, trong quá trình thi công hố đào của công trình Sài Gòn Plaza đã gây sụt lún tòa án nhân dân TP.1b), số 21 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, quận 1. Đây là hai ví dụ cho thấy vấn đề ổn định của một hố đào sâu vô cùng quan trọng đối với các công trình thi công phần ngầm. (a) – Sự cố tòa nhà Pacific (b) – Sự cố công trình Sài Gòn Plaza Hình 1. 1: Sự cố trong quá trình thi công hố đào sâu [1] 1 Vấn đề ổn định hố đào sâu được quyết định bằng nhiều yếu tố, có thể kể đến như: biện pháp thi công, đặc điểm thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu, dòng thấm, … Dòng thấm là yếu tố luôn hiện diện và gây ra các nguy cơ mất ổn định trực tiếp đến hệ kết cấu tường vây và tường chắn (hai hệ kết cấu chính giữ thành hố đào) từ đó gây mất ổn định hố đào.
Đặc biệt, khi cọc tạm (trong hố đào) hay cọc của các công trình lân cận (ngoài hố đào) bị sự cố, sẽ gây mất ổn định đến cấu tạo của hệ Shoring – kingpost – Cừ Larsen (Hình 1. Hệ Shoring - kingpost là hệ chống đỡ phổ biến được sử dụng để gia cố và giữ vững thành hố đào. 2: Hệ giằng chống Shoring – kingpost [2] Ở đây, cọc tạm là các cọc dùng cho công nghệ thi công Top-down, nằm trong hố đào trong quá trình thi công tầng hầm. Đối với cọc của các công trình lân cận, đây là cọc của các móng cọc từ các công trình liền kề đã xây dựng trước đó.
Hiện nay, tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, chưa có nhiều công trình khoa học đề cập và xem xét ảnh hưởng của dòng thấm đến ma sát thành cọc trong quá trình thi công hố đào sâu ở điều kiện thực tế. Nhận thấy điều này, đề án mong muốn sẽ đưa ra các đánh giá đối với hành vi ứng xử cũng như tác động của dòng thấm đến ma sát thân cọc cùng sự thay đổi của các thành phần áp lực đất chủ động, áp lực đất bị động thông qua mô hình thí nghiệm (Hình 1. Công trình nghiên cứu này cũng là hướng đi mới, cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ cho các mục đích khoa học sau này, cũng như đưa ra các 2 đề xuất mang tính tham khảo trong điều kiện thi công thực tế có môi trường đất tương tự như đất dùng trong thí nghiệm. 3: Mô hình dòng thấm trong điều kiện thực tế 1.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu Do gradient thủy lực của dòng thấm, áp lực nước xung quanh khu vực hố đào thay đổi từ áp lực thủy tĩnh sang áp lực nước thủy động, từ đó làm thay đổi ứng suất hữu hiệu của đất. Nhiều nghiên cứu trước đã lập mô hình thí nghiệm và phương pháp giải tích về dòng thấm trong đất cát dưới hố đào sâu được bảo vệ bởi tường chắn, từ đó phân tích ảnh hưởng của dòng thấm đến áp lực chủ động, áp lực bị động tác động vào tường chắn. Ma sát thân cọc được ứng dụng trong việc xác định sức chịu tải của cọc dùng cho mục đích tính toán và thiết kế sức chịu tải cọc cho các công trình xây dựng thực tế. Sức chịu tải cọc [3] theo ma sát thân cọc được xác định theo biểu thức: Qult = Qs + Qt = f s As + qAt (1.1) Trong đó: Qs : sức kháng ma sát thành cọc do ma sát dọc thân cọc; Qt : sức kháng mũi cọc do tải trọng tác dụng lên cọc; 3 f s : lực ma sát giữa thân cọc và đất nền; As : diện tích bề mặt tiếp xúc với đất của cọc; q : Tải trọng tác dụng lên đầu cọc; At : diện tích hữu hiệu (tổng) của mũi cọc tiếp xúc với đất.
Ma sát dọc thân cọc trong đất cát tăng tuyến tính đến độ sâu tới hạn được giả định là Dc , sau đó vẫn không đổi ở độ sâu đó. Bên cạnh đó, độ sâu tới hạn dao động trong khoảng 10 20 đường kính cọc B tùy thuộc vào độ chặt của đất cát. Cụ thể, giá trị Dc = 10 B đối với cát rời, Dc = 15 B đối với cát có độ nén trung bình và Dc = 20 B đối với cát nén chặt. Ma sát dọc thân cọc và đất nền ( f s ) được tính như sau: f s = K v' tan (1.2) Trong đó: : góc ma sát trong giữa đất và cọc (Bảng 1.1); K : hệ số áp lực ngang của đất (Bảng 1.2) được xác định dựa theo loại đất ( K c đối với cọc chịu nén và K t đối với cọc chịu kéo); v' : ứng suất hữu hiệu của đất (áp lực của lớp đất phía trên tác dụng lên lớp đất phía bên dưới mà không bị ảnh hưởng bởi áp lực nước ngầm).3) Với v là ứng suất tổng của đất và u là ứng suất hữu hiệu.
Dòng thấm sẽ ảnh hưởng đến ứng suất hữu hiệu và hệ số áp lực ngang. Từ đó làm thay đổi ma sát dọc thân cọc. 1: Giá trị của [3] Bảng 1. 2: Giá trị của K [3] Vật liệu cọc Loại đất Kc Kt Thép 0.0 Các giá trị K và không dựa trên kinh nghiệm và thí nghiệm chịu tải cọc.
Đồng thời, đề xuất người thiết kế sử dụng mức giảm tối thiểu của trong khi sử dụng các giá trị K. 4 Dòng thấm xuất hiện khi dòng chảy trong đất di chuyển từ vùng có áp lực cao tới vùng có áp lực thấp, với áp lực được biểu thị bằng cột nước. Binnie và Henry J.4) n 2g Trong đó: hz : vị trí, cao trình cột nước; u : cột nước áp lực do áp lực nước lỗ rỗng; n v2 : cột nước vận tốc khi có vận tốc dòng thấm. 2g Với vận tốc thấm v được xác định theo biểu thức: v = ki (1.5) Trong đó: k : hệ số thấm của đất; H i : gradient thủy lực, i = (tổn thất trên chiều dài đường thấm).
L Tuy vậy nước chỉ thấm vào đất thông qua lỗ rỗng của đất. Chính vì thế, vận tốc thấm thực tế có thể được tính theo biểu thức sau: A 1 1+ e vtt = v = v= v (1.6) Av n e Trong đó: e : hệ số rỗng của đất; v : vận tốc trung bình của dòng thấm qua đất; A : diện tích mặt cắt của đất; Av : diện tích mặt cắt của lỗ rỗng. Trường hợp thấm phẳng ổn định trong môi trường đồng nhất, đẳng hướng: 2h 2h + =0 (1.7) x 2 y 2 Trường hợp đất đồng nhất và dị hướng: 2h 2h kthx + k =0 (1.8) x 2 y 2 thy 5 Trong đó: h là cột nước thấm; x, y lần lượt là đường đi ngang và đường đứng của dòng thấm; kthx , kthy lần lượt là hệ số thấm ngang và đứng của đất. Ảnh hưởng của dòng thấm đến ứng suất hữu hiệu có trong đất được đánh giá như sau: Dòng thấm có hướng đi lên tác động tới các hạt đất, dẫn đến làm giảm ứng suất hữu hiệu giữa các hạt đất: ' = − u − i n (1.9) Ngược lại khi dòng thấm đi xuống sẽ làm tăng thành phần ứng suất hữu hiệu giữa các hạt đất: ' = − u + i n (1.10) Tác động của dòng thấm đến hệ số áp lực ngang của đất: Ngoài các tác nhân xói ngầm hay đẩy trồi thì áp lực đất chủ động và áp lực đất bị động phía trước tường chắn khi có sự tham gia, cộng hưởng của dòng thấm cũng là tác nhân gây mất ổn định kết cấu tường chắn cần phải được xem xét trong thi công hố đào sâu [5].
Để phân tích ổn định cho hố đào sâu khi có lực thấm [6], phải đánh giá được sự giảm sức kháng đất bị động và sự gia tăng áp lực đất chủ động do ảnh hưởng của dòng thấm trong điều kiện có độ dốc thủy lực. Naïma Benmebarek và cộng sự [7] vào năm 2006 đã nghiên cứu vấn đề này trong đất không kết dính, với độ dốc thủy lực được nhóm tác giả thực hiện bằng phương pháp sai phân hữu hạn triển khai trong mã Fast Lagrangian Analysis of Continua (FLAC). Kết quả cho thấy, áp lực đất bị động hữu hiệu giảm dần và sự gia tăng áp lực đất chủ động hữu hiệu theo tiêu hao năng lượng ở đầu dốc thủy lực. Đồng thời, giá trị góc ma sát trong lớn sẽ ảnh hưởng lớn đến áp lực chủ động hữu hiệu có trong đất.
Khi dòng thấm được kể đến trong tính toán áp lực đất, dòng thấm thường được giả định là đẳng hướng bằng cách giả sử các bề mặt phá hoại phẳng. Hiện nay có nhiều phương pháp tính toán áp lực đất [8], [9] được áp dụng trên toàn thế giới. Biểu thức xác định áp lực đất chủ động [9] được lập ra để tính cho đất rời (1.11) và đất dính (1.12) sau lưng tường tác động, sơ đồ tính toán được thể hiện trong Hình 1.5 : 6 ' Pa = 'zbt tan2 450 − = 'zbt K a (1.11) 2 ' ' Pa = 'zbt tan2 450 − − 2c' tan 450 − = 'zbt K a − 2c' K a (1.