Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của đất than bùn và chế độ ngập nước đến sinh khối rừng tràm vườn quốc gia u minh hạ tỉnh cà mau

Luận án tiến sĩ phân tích ảnh hưởng của đất than bùn và chế độ ngập nước đến sinh khối rừng tràm tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Cà Mau.

Trường đại học

Đại học Cần Thơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

180
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của đất than bùnchế độ ngập nước lên sinh khối rừng Tràm tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Cà Mau. Đất than bùn là yếu tố quan trọng trong hệ sinh thái rừng Tràm, giúp hạn chế quá trình phèn hóa và tích lũy chất hữu cơ. Ngập nước không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Tràm mà còn liên quan đến công tác phòng cháy chữa cháy. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của hai yếu tố này lên sinh khối và khả năng hấp thụ CO2 của rừng Tràm, góp phần vào việc quản lý tài nguyênphát triển bền vững.

1.1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của đất than bùnngập nước lên sinh khối rừng Tràm, đồng thời đánh giá khả năng hấp thụ CO2 của rừng trong các điều kiện khác nhau. Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ công tác quản lý tài nguyênbảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2015 với 18 ô tiêu chuẩn (100 m2) được thiết lập để thu thập dữ liệu. Các chỉ tiêu về đất than bùn, ngập nước, và sinh khối rừng Tràm được đo đạc và phân tích. Phương pháp hồi quy đa biến được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và sinh khối rừng.

2.1. Thu thập dữ liệu

Dữ liệu về đất than bùn bao gồm độ dày, dung trọng, pH, hàm lượng chất hữu cơ, và các chỉ tiêu dinh dưỡng. Dữ liệu về ngập nước bao gồm độ sâu ngập, pH nước, và nồng độ oxy hòa tan. Sinh khối rừng Tràm được đo đạc thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính, chiều cao, và mật độ cây.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy đất than bùn tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ có độ xốp cao, dung trọng thấp, và hàm lượng chất hữu cơ cao. Sinh khối rừng Tràm dao động từ 72,3 đến 95,9 tấn/ha, với giá trị cao nhất ở độ dày đất than bùn 20-40 cm. Ngập nước cũng ảnh hưởng đáng kể đến sinh khối, với giá trị cao nhất ở độ ngập dưới 30 cm.

3.1. Ảnh hưởng của đất than bùn

Đất than bùn có độ dày 20-40 cm cho thấy sinh khối rừng Tràm cao nhất (95,9 tấn/ha), trong khi độ dày 60-80 cm có sinh khối thấp nhất (72,3 tấn/ha). Điều này cho thấy độ dày đất than bùn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của rừng Tràm.

3.2. Ảnh hưởng của ngập nước

Ngập nước ở độ sâu dưới 30 cm cho sinh khối cao nhất (91 tấn/ha), trong khi độ ngập trên 60 cm có sinh khối thấp nhất (75 tấn/ha). Điều này khẳng định vai trò của ngập nước trong việc duy trì sinh khối rừng Tràm.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đất than bùnngập nước có ảnh hưởng đáng kể đến sinh khối rừng Tràm tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ. Để quản lý tài nguyên hiệu quả, cần duy trì độ dày đất than bùn và mức độ ngập nước phù hợp. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp phát triển bền vữngbảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực.

4.1. Đề xuất quản lý

Cần duy trì mức độ ngập nước hợp lý để đảm bảo sinh khối rừng Tràm và phòng chống cháy rừng. Đồng thời, cần có các biện pháp bảo vệ đất than bùn để duy trì chất lượng đất và hỗ trợ sự phát triển của rừng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của đất than bùn và chế độ ngập nước đến sinh khối rừng tràm vườn quốc gia u minh hạ tỉnh cà mau

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Cây Tràm là loài cây khá quen thuộc đối với người dân ở đồng bằng sông Cứu Long đặc biệt là các tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Thái Văn Trừng (1998) gọi rừng Tràm ở vùng này là hệ sinh thái rừng úng phèn trên đó cây Tràm là cây thích nghi nhất, từ lúc hạt nảy mầm thành cây mạ có thể sinh trưởng trong nước ngập phèn nhưng năng suất không cao. Rừng Tràm do phát sinh ở những nơi trũng thấp nên bị ngập nước ngọt trong mùa mưa lũ, hàng năm rừng Tràm trả lại cho đất một lượng lớn chất hữu cơ và do bị ngập úng trong thời gian dài nên chất hữu cơ được tích lũy nhiều trong đất và đã tạo thành lớp mùn dày 60 – 70 cm và lâu ngày thành than bùn dưới rừng Tràm. Tầng than bùn dưới rừng Tràm có tác dụng hạn chế quá trình phèn hóa của đất.

Than bùn là sản phẩm phân hủy của xác bã hữu cơ dưới tác động của vi sinh vật trong điều kiện ngập nước và tùy vào điều kiện ngập nước và mức độ phân hủy mà than bùn có thành phần và đặc tính khác nhau (Tanit, 2005). Đặc tính của than bùn là dễ cháy nên để quản lý rừng Tràm trên đất than bùn, công tác thường được chú trọng của các nhà quản lý là giữ nước trong rừng Tràm và xây dựng hệ thống kênh mương để phòng cháy chữa cháy. Các nhà khoa học thì quan tâm đến hệ sinh thái tự nhiên hay sự đa dạng sinh học có bị tác động hay không với việc giữ nước trong rừng. Đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này như nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiệp (2005), Lê Minh Lộc và ctv (2009) về quản lý nước rừng Tràm ở U Minh Hạ; nghiên cứu của Trần Quang Thắng và Trần Quang Bảo (2011) ở U Minh Thượng; nghiên cứu về cân bằng nước của Vương Văn Quỳnh và ctv (2005) ở U Minh Thượng.

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ thực hiện ở góc độ quản lý rừng Tràm cho khỏi cháy bằng việc giữ nước. Lợi ích của rừng Tràm đã được biết đến trong việc phòng hộ chắn gió bão, là nơi cư trú của rất nhiều loài động vật hoang dã nhất là các loài bò sát, cá, chim …, rừng Tràm có vai trò bảo vệ đất, nước và lưu trữ một lượng lớn cacbon. Những sản phẩm kinh tế từ rừng Tràm cũng rất đa dạng: Tinh dầu Tràm, mật ong…, gỗ Tràm được sử dụng phổ biến trong việc gia cố nền móng các công trình xây dựng, làm chất đốt (Saberioon, 2009). Trong điều kiện biến đổi khí hậu đang là vấn đề cấp thiết thì cây có vai trò giảm thiểu tác động thông qua hấp thụ CO2 (IPCC, 2003).

Đặc điểm chính của cây Tràm có khả năng chịu đựng được điều kiện ngập nước, hạn hán hay 1 nhiễm mặn ở mức nhẹ, nhiễm phèn (Tran et al., 2013; Sam and Binh, 1999; Okubo et al. Chính vì vậy mà đã có nhiều nghiên cứu về khả năng thích ứng của cây Tràm với biến đổi khí hậu. Việc giữ cho rừng Tràm luôn ngập nước có ảnh hưởng như thế nào đến sự sinh trưởng và sinh khối cây Tràm thì đây là vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu. Điều kiện tự nhiên của VQG U Minh Hạ là có rừng Tràm trên đất than bùn và than bùn phân bố thành các độ dày khác nhau ở các nơi.

Vì vậy, chất lượng đất than bùn cũng như độ dày tầng than bùn cũng là yếu tố cần xem xét bên cạnh việc giữ nước phòng chống cháy rừng. Việc giữ nước phòng chống cháy rừng qua nhiều năm có làm ảnh hưởng đến mật độ Tràm và cây Tràm có tồn tại vĩnh viễn để tạo ra môi trường thích hợp cho bảo tồn đa dạng sinh học hay không thì nghiên cứu tổng hợp về điều kiện môi trường đất và nước là cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý rừng bền vững và lâu dài. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của đất than bùn và chế độ ngập nước lên sinh khối rừng Tràm (Melaleuca cajuputi Powell) ở Vườn Quốc Gia U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau” được thực hiện.2 Mục tiêu của đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát Khảo sát đặc tính sinh học của rừng Tràm trên đất than bùn ở các độ sâu ngập khác nhau để cung cấp cơ sở khoa học nhằm phục vụ công tác quản lý và phát triển ổn định rừng Tràm ở VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau.2 Mục tiêu cụ thể - Đánh giá độ dày tầng than bùn và chất lượng than bùn đến sinh khối rừng Tràm. - Xác định mức độ ngập khác nhau và chất lượng nước lên sinh khối rừng Tràm - Đánh giá mức độ dày tầng than bùn và mức độ ngập khác nhau lên sinh khối và CO2 của rừng Tràm.3 Giới hạn đề tài Thời gian và không gian: Đề tài được thực hiện trong 2 mùa mưa và 2 mùa nắng từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2015 tại VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau.4 Nội dung nghiên cứu - Xác định độ dày tầng than bùn tại VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau và chất lượng đất ở các độ dày than bùn khác nhau 2 - Xác định độ sâu ngập và chất lượng nước ở các độ sâu ngập tại VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau - Khảo sát, đo đếm một số chỉ tiêu sinh trưởng trên cây Tràm ở các độ dày than bùn và các độ sâu ngập khác nhau - Đánh giá sinh khối và khả năng hấp thụ CO2 của rừng Tràm ở các điều kiện độ dày than bùn và độ sâu ngập khác nhau - Đề xuất biện pháp quản lý cho rừng Tràm VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là xác định được ảnh hưởng của đất than bùn, độ sâu ngập nước và chất lượng đất, nước đến sinh khối rừng Tràm.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài cung cấp thông tin, số liệu phục vụ công tác quản lý và phát triển ổn định rừng Tràm ở VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau.

Việc bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước rừng Tràm trên đất than bùn là công việc lâu dài và cần có nhiều giải pháp tổng hợp trong công tác quản lý rừng đặc dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với rừng Tràm trên đất than bùn nếu quản lý bằng việc luôn giữ cho rừng ngập nước quanh năm và mực nước được giữ càng sâu thì rừng không bị cháy nhưng mật độ cây Tràm càng giảm vì bị chết dần. Do đó, để có thể vừa phòng cháy vừa đảm bảo cho rừng Tràm phát triển ổn định thì độ dày tầng than bùn 20 – 40 cm và độ sâu ngập thấp hơn 30 cm là điều kiện tối ưu nhất và cho giá trị sinh khối cao nhất.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu - Đất than bùn trong rừng Tràm VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau - Nước trong rừng Tràm VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau - Cây Tràm (Melaleuca cajuputi Powell) trong rừng Tràm VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau 1.2 Phạm vi nghiên cứu VQG U Minh Hạ, ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.7 Điểm mới của luận án Xác định mối quan hệ giữa đất than bùn và sinh khối Tràm ở các độ dày than bùn khác nhau Đất than bùn là loại đất giàu đạm (0,58 - 1,23%N) nhưng chưa phải là môi trường tốt cho sự phát triển của cây Tràm. Do than bùn dễ cháy nên đối với rừng Tràm trên đất than bùn thì việc giữ nước để không bị cháy rừng đã làm cho rừng Tràm bị suy thoái dần và được thể hiện rõ nhất qua mật độ cây.

Mật độ Tràm ở VQG U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau dao động từ 1. Ở các địa điểm nghiên cứu, độ dày than bùn càng cao thì mật độ cây càng thấp. Sinh khối rừng Tràm tại các nghiệm thức độ dày than bùn dao động từ 72,3 – 95,9 tấn/ha và sinh khối có xu hướng giảm dần khi độ dày tầng than bùn cao hơn. Giá trị sinh khối rừng cao nhất ở độ dày than bùn 20 – 40 cm (95,9 tấn/ha), thấp nhất ở độ dày than bùn 60 – 80 cm (72,3 tấn/ha) và ở độ dày than bùn 40 – 60 cm có giá trị 81,1 tấn/ha.

Khả năng hấp thụ CO2 của rừng Tràm ở nghiệm thức độ dày than bùn 20 – 40 cm cũng là cao nhất (147 tấn/ha) và khác biệt ý nghĩa với nghiệm thức than bùn 60 – 80 cm (110 tấn/ha). Ở vị trí 40 – 60 cm có giá trị là 124 tấn/ha. Xác định mối quan hệ giữa độ sâu ngập và sinh khối Tràm ở các điều kiện ngập khác nhau Tràm là cây có thể chịu đựng và sống được trong điều kiện ngập nước nhưng không thích ngập vì khi cây Tràm bị ngập sâu trong thời gian dài sẽ dần dần thoái hóa và chết. Từ đó, mật độ cây sẽ giảm và ảnh hưởng đến sinh khối của rừng.

Nước được giữ lại trong rừng Tràm để phòng cháy rừng thường vào mùa mưa nhưng nước mưa có tính axit và không cung cấp nhiều dưỡng chất cho cây Tràm. Trong kết quả nghiên cứu, mật độ cây ở nghiệm thức Tràm có độ ngập thấp nhất (<30 cm) có giá trị trung bình cao nhất (1.564 cây/ha±306) và có sự khác biệt so với hai nghiệm thức ngập nước còn lại (P<0,05). Sinh khối bình quân của rừng Tràm VQG U Minh Hạ từ 75 - 91 tấn/ha. Sinh khối rừng Tràm ở độ ngập thấp (<30 cm) cho giá trị cao nhất (91 tấn/ha), thấp nhất ở độ ngập >60 cm (75 tấn/ha) và ở độ ngập 30 – 60 cm là 85 tấn/ha.

Khả năng hấp thu CO2 lớn nhất của rừng Tràm ở độ ngập < 30 cm là 143 tấn/ha trong khi ở độ ngập 30 – 60 cm và >60 cm lượng CO2 được giữ lại chỉ 123 tấn/ha và 136 tấn/ha. Điều này chứng tỏ cây Tràm mặc dù có thể chịu đựng được tình trạng ngập nước nhưng năng suất cao nhất khi cây sống ở điều kiện ngập ít hơn. Xem xét mối quan hệ đa nhân tố giữa các yếu tố môi trường đất – nước và sinh khối Tràm 4 Các chỉ tiêu chất lượng môi trường nước như pH, DO, BOD5, N-NO3-, N- NH4+ và đất như: dung trọng, pH, tổng đạm, tổng lân, chất hữu cơ, N-NO3- và N-NH4+ đã được đưa vào sử dụng hàm đa biến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng đất than bùn và ngập nước đến sinh khối rừng tràm U Minh Hạ, Cà Mau là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích tác động của điều kiện đất than bùn và tình trạng ngập nước lên sinh khối rừng tràm tại khu vực U Minh Hạ, Cà Mau. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về sự phát triển của hệ sinh thái rừng tràm trong điều kiện đặc thù, đồng thời đưa ra các giải pháp quản lý và bảo tồn hiệu quả. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, quản lý môi trường và những ai quan tâm đến bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ địa lý tự nhiên nghiên cứu biến động lớp phủ thực vật ngập mặn thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định dưới tác động của đô thị hóa, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn về sự thay đổi lớp phủ thực vật ngập mặn dưới tác động của quá trình đô thị hóa. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ địa lý tự nhiên nghiên cứu biến động lớp phủ rừng huyện Kbang tỉnh Gia Lai cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về sự biến động của lớp phủ rừng trong bối cảnh môi trường thay đổi. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành thủy văn học nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn thám và mô hình thủy văn phân bố trong đánh giá ảnh hưởng của việc thay đổi thảm phủ đến tài nguyên nước lưu vực sông Cầu sẽ mang đến cái nhìn toàn diện về mối liên hệ giữa thảm phủ và tài nguyên nước. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn đa chiều về các vấn đề môi trường và sinh thái.