CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Thâm canh nông nghiệp là quá trình kinh tế rất đa dạng và phong phú, để sản lượng tăng thì phải tăng năng suất và diện tích. Sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa cùng với sự ra tăng không ngừng về dân số đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm. Do vậy vấn đề tăng năng suất trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng chịu tác động của các yếu tố tự nhiên như đất, nước, dinh dưỡng, khí hậu, thời tiết, đồng thời nó cũng chịu tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế - xã hội như trình độ canh tác, biện pháp kỹ thuật, khả năng đầu tư, thâm canh,… Việc cấy lúa ở tuổi mạ phù hợp để cây lúa có bộ rễ sinh trưởng tốt, đẻ nhánh khỏe, đẻ nhánh nhiều, tăng số nhánh hữu hiệu và bố trí mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh hại, tạo tiền đề cho năng suất cao của giống đó. Ngoài ra, việc bố trí mật độ hợp lý còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa hiện nay. Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng nếu trên đất giàu dinh dưỡng, mạ mọc tốt thì cần chọn mật độ thưa, nếu đất xấu mạ không tốt thì cần cấy dày. Để xác định mật độ hợp lý có thể căn cứ vào số bông/m2 và số bông hữu hiệu/khóm.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về tuổi mạ và phương pháp cấy cho giống nếp Thầu Dầu chưa nhiều và thiếu các nghiên cứu hệ thống vấn đề này. Thực tế, đây là một biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh lúa; với mỗi giống lúa, tuổi mạ thích hợp, mức đầu tư kỹ thuật trên các vùng khác nhau thì cần có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 các nghiên cứu tìm ra tuổi mạ và mật độ cấy hợp lý để nâng cao chất lượng và năng suất cho cây lúa. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Hiện nay trên thế giới có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục.
Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng. Sau đây chúng ta thấy biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên toàn thế giới những năm gần đây. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên Thế giới giai đoạn 2012 – 2017 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn) 2010 161,7 43,3 701,1 2011 162,7 44,6 726,4 2012 162,2 45,2 736,6 2013 165,2 44,9 742,5 2014 164,1 45,2 742,4 2015 162,3 45,9 740,1 2016 165,2 45,8 756,1 2017 167,2 46,0 769,7 (Nguồn: FAOSTAT) [37] Bảng 1.1 cho thấy từ năm 2012 – 2017 diện tích lúa tăng giảm không ổn định, diện tích lúa cao nhất là năm 2017 đạt 167,2 triệu ha, tăng khoảng 2 triệu ha so với năm 2016. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Năng suất qua các năm tăng dần qua các năm nhưng không đáng kể dao động từ 43,3 - 46 tạ/ha, điều này cho thấy những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh cải tiển áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho năng suất, sản lượng giống lúa tăng lên.
Sản lượng năm 2010 thấp nhất đạt 701,1 triệu tấn đến năm 2017 đã tăng lên đạt 769,7 triệu tấn. Năm 2015 sản lượng lúa của thế giới thấp hơn 2014 do mùa mưa đến muộn ở vùng Nam Á và vài nơi khác, với sản lượng 740,1 triệu tấn lúa (hay 496,6 triệu tấn gạo), được trồng trên 162,3 triệu ha. Năng suất lúa trung bình là 45,9 tấn/ha. Nguyên nhân chính là do khí hậu gió mùa bất thường làm sản xuất lúa tại Ấn Độ giảm 3% và cũng ảnh hưởng đến một số nước khác, như Indonesia, Campuchia, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Bắc Triều Tiên và Thái Lan.
Trong khi đó, khí hậu tương đối thuận lợi tại các nước: Trung Quốc, Indonesia, Myanmar, Malaysia, Nam Hàn, Nigeria và Việt Nam. Vùng Phi Châu sản xuất tăng nhưng không bắt kịp mức tiêu thụ. Năm 2014, vùng Bắc Phi (Ai Cập) và Tây Phi bị ảnh hưởng khí hậu bất thường, trong khi miền Đông và Nam Phi Châu (Madagascar và Tanzania) được mùa. Vùng Nam Mỹ và Caribbean sản xuất tăng khoảng 1% do một số nước được mùa, như Argentina, Brazil, Cuba, Guyana và Paraguay; trong khi khí hậu không thuận hòa tại Colombia, Ecuador và Venezuela.
Tại Hoa Kỳ, sản xuất lúa được phục hồi 16% so với 2013. Châu Âu sản xuất lúa gạo tăng 2,8% đến 4,1 triệu tấn lúa, phần lớn do phục hồi sản xuất tại Liên Bang Nga. Sản xuất lúa tại Úc Châu giảm 28% so với 2013, do hạn hán và thiếu nước trồng (FAOSTAT, 2018) [37]. Các nhà chọn giống tiên đoán trong vòng 10 năm tới, năng suất lúa thế giới tiếp tục tăng bình quân trên 0,7% hằng năm, trong đó 70% tăng trưởng về sản lượng lúa thế giới sẽ từ Ấn Độ (37%), Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Nigeria.
Trong khi mức tiêu thụ gạo cũng tăng bình quân 0,7%. Tuy nhiên do tốc độ tăng dân số nhanh hơn nên hàng năm mức tiêu thụ gạo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 bình quân đầu người sẽ giảm khoảng 0,4% mỗi năm. Ấn Độ và Trung Quốc vẫn sẽ là nước tiêu thụ gạo nhiều nhất và ước khoảng 50% lượng gạo tiêu thụ toàn thế giới. Giá gạo thế giới sẽ tăng bình quân 0,3% mỗi năm và lượng gạo lưu thông trên thị trường thế giới cũng gia tăng trung bình 1,8%/năm.
Năm 2016, lượng gạo trao đổi toàn cầu đạt 33,4 triệu tấn. Cùng với tăng năng suất và giảm mức tiêu thụ trên đầu người, Ấn Độ và Thái Lan là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Gạo xuất khẩu từ Pakistan giảm, trong khi Việt Nam ổn định vì mức tiêu thụ trong nước tăng nhanh hơn mức sản xuất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009) [4] Nhiều quốc gia xuất khẩu gạo lớn giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so với cầu, giá gạo trên thị trường thế giới giữ ở mức cao. Dân số thế giới trung bình tăng thêm 1 tỷ người sau 14 năm.
Diện tích cây trồng trên đầu người: 0,45 ha/năm (1966); 0,25 ha/năm (1998), và dự đoán còn 0,15 ha vào năm 2050. Mức độ gia tăng năng suất thấp: tăng 2,1%/năm trong thập niên 1980, và 1,0% trong thập niên 1990. Thách thức đặt ra cho nhân loại là diện tích nông nghiệp giảm (1,5 tỷ ha) vào năm 2050, nước tưới cho nông nghiệp giảm, nhưng phải tăng sản lượng lương thực gấp đôi (Nguyễn Thị Lang, 2013)[13]. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành sản xuất lúa gạo nói chung cũng như các nhà nghiên cứu nói riêng phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản lượng đảm bảo an ninh lương thực.
Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm nghề nông, chính vì vậy mà trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc. Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa có chiều dài bờ biển lên tới 3000km, địa hình phức tạp nhiều sông núi, do đó hình thành nhiều vùng canh tác lúa khác nhau. Căn cứ vào điệu kiện tự nhiên, tập quán LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 canh tác, sự hình thành mùa vụ và phương pháp gieo trồng, nghề trồng lúa nước được hình thành và chia ra là 3 vùng chính: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồng bằng Nam Bộ. Theo bảng thống kê diện tích và sản lượng lúa của cả nước, nhận thấy rằng từ năm 2010 trở đi diện tích trồng lúa có xu hướng tăng trở lại và đạt 7.903 nghìn ha vào năm 2013.
Sau đó, diện tích lúa ở mức ổn định và dao động từ 7,7 – 7,8 triệu ha. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam từ năm 2010 - 2017. Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 7,489 53,42 40,006 2011 7,655 55,38 42,399 2012 7,761 56,40 43,738 2013 7,903 55,70 44,039 2014 7,816 57,50 44,975 2015 7,835 57,70 45,216 2016 7,737 55,80 43,165 2017 7,708 55,5 42,763 Nguồn: Tổng cục Thống kê [21] Qua bảng 1.2 có thể thấy diện tích trồng lúa không ngừng tăng qua các năm, năm 2010 (7,489 triệu ha) diện tích có xu hướng tăng đến năm 2017 đạt 7,708 triệu ha diện tích trồng lúa. Năng suất trồng lúa ở nước ta tăng giảm thất thường, cụ thể: năm 2010 năng suất lúa đạt 53,42 tạ/ha tăng đến năm 2012 đạt 56,40 tạ/ha sau đó năng suất giảm đến năm 2013 năng suất lúa đạt 55,70 tạ/ha, năng suất tăng nhẹ lên 57,70 tạ/ha năm 2016.
Sản lượng trồng lúa ở nước ta từ năm 2012 – 2017 dao động từ 40,006 - 42,763 triệu tấn, trong đó năm 2010 sản lượng lúa thấp nhất đạt 40,0006 triệu tấn và cao nhất vào năm 2015 sản lượng đạt 45,216 triệu tấn. Việt Nam tiếp tục là nước đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo. Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, song ngành lúa gạo Việt Nam đang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 gặp rất nhiều khó khăn. Chất lượng lúa gạo đang là vấn đề khá nan giải, vì tập quán sản xuất của đại bộ phận nông dân vẫn còn chú trọng số lượng hơn chất lượng, nhiều loại giống được gieo trồng trong cùng một vùng nên chất lượng gạo không thuần chủng và không đồng đều.
Vấn đề bảo quản sau thu hoạch còn nhiều bất cập, gây hao hụt lớn và làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt gạo, vì vậy phẩm cấp hạt gạo sau khi chế biến không cao khó tiếp cận được với thị trường khó tính. Vấn đề hiện nay đang đặt ra câu hỏi làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay. Trong nghiên cứu hệ thống sản xuất nông nghiệp hàng hóa phải được bắt đầu từ công tác đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng canh tác là hết sức quan trọng. Việc cải tiện hệ thống canh tác được các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam quan tâm, nghiên cứu, bước đầu đạt được nhiều kết quả tốt.