Phần Mở đầu, 3 chương chính văn và phụ lục. TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Vật liệu nano và công nghệ nano 1. Sơ lược về vật liệu nano, công nghệ nano và hóa học nano Trong những năm gần đây, trên thị trường xuất hiện nhiều sản phẩm được quảng bá sử dụng công nghệ nano như khẩu trang nano bạc, thiết bị lọc nước nano, tủ lạnh nano, máy giặt nano, nano LCD, mỹ phẩm nano, sơn nano,.
Một số sản phẩm sử dung công nghệ nano (a) — Thiết bị lọc nước; (b) — Son tưởng Công nghệ nano đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng và thu hút sự đầu tư nghiên cứu của các nhà khoa học. Điều đó cho thấy công nghệ và vật liệu nano có vai trò rat lớn [36]. Công nghệ nano là công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo, ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bang viéc diéu khién hinh dang, kích thước ở quy mô nanomet (từ 1 — 100 nm) [11], [12]. Các hat nano tồn tại từ rất lâu trong tự nhiên, ở thé kỷ thứ 10 người ta đã sử dụng hat nano vàng dé tạo ra thủy tinh, gốm sứ có màu sắc khác nhau (mau đỏ, xanh hoặc vàng tùy vào kích thước của hạt),.
Nghĩa là con người đã sử dụng và chế tạo các vật liệu nano từ rất lâu, chỉ có điều ở thời điểm đó, con người chưa biết nhiều về nó [12]. Khái niệm về công nghệ nano được nhắc đến từ năm 1959, khi nhà vật lý người Mỹ Richard Feynman đề cập tới khả năng chế tạo vật chất ở kích thước siêu nhỏ, đi từ quá trình tập hợp các nguyên tử, phân tử. Những năm 1980, nhờ sự ra đời của hàng loạt các thiết bị phân tích, trong đó có kính hiển vi đầu đò quét (SPM) có khả năng quan sát đến kích thước vài nguyên tử hay phân tử, từ đây con người có thé quan sat va hiểu rõ hơn về lĩnh vực công nghệ nano [12]. So sảnh kích thước của một số vật 1 nano = 10° m = một phan tỉ của mét = 105 mm = một phan triệu milimét 1 nano = 10 A = kích thước 10 nguyên tử; 1 um = 10 nm um nm Độ day sợi tóc 80 — 200 80000 — 200000 Tế bào máu 4-6 4000 — 6000 Vi khuẩn E - coli 1 100 ^ ánh sáng thấy được 0,4 — 0,75 400 — 750 Virut đậu mùa 0,2 — 0,3 200 — 300 Duong kinh ADN 0,002 2 1 nguyén tu 0,0001 0,1 Lịch sử nghiên cứu các vật liệu có kích thước nhỏ bao gồm hai giai đoạn [35].
Giai đoạn một, từ năm 1870 — 1970, người ta bắt đầu chú ý đến vật liệu kích thước cỡ micro do những ứng dụng mang tính đột phá của chúng trong ngành cơ khí, từ, quang học. Từ khi ra đời của thuyết khuyết tật mạng tinh thé và các kỹ thuật nghiên cứu vật liệu ở cấp độ nguyên tử, phân tử, các nhà khoa học đã có cơ sở nghiên cứu rõ hơn về mối tương quan giữa độ nhạy của chat ran với kích thước micro của chúng. Ở giai đoạn tiếp theo là sau năm 1970, người ta thiết kế thành công các câu trúc micro siêu min cho cả thê hệ vật liệu ran mới với mức độ nguyên tử hoặc cấu trúc electron. Và từ đó, những khái niệm mới như hạt nhỏ hơn micro, tinh thé nano, hạt nano,.,bắt đầu ra đời.
Đối tượng của công nghệ nano là vật liệu nano và cách thức tạo ra vật liệu nano. Có hai phương thức tạo ra vật liệu nano, đó là: “bottom — up” và “top — down”. Trong đó, phương thức được cho là ưu thế dé đạt đến những kích thước mà con người mong muốn, đó là “bottom — up”. Từ thứ nguyên là kích thước nguyên tử hình thành khối dạng hạt cấu trúc nano.
Những khối nano này được tổ chức hóa thành những hình thái khác nhau tùy theo điều kiện chế tạo và mục đích sử dụng chúng. Hóa học nghiên cứu ở cấp độ các nguyên tử và phân tử (vật chất có kích thước < 1 nm), vật lí chat ran lại đề cập về cơ bản đến mạng vô han, các nguyên tử hoặc phân tử có kích thước > 100 nm. Hóa học nano nghiên cứu bao gom các hạt từ 1 — 100 nm hay khoảng 10! — 10° nguyên tử hoặc phân tử trên mỗi hạt [6]. Hóa học nano là khoa học nghiên cứu các phương pháp tông hợp và xác định tính chất của vật liệu nano.
Người ta đã chứng minh được rằng, một loạt các tính chất phụ thuộc vào kích thước hạt nano bao gồm: tính chất từ, tính chất điện, tính chất quang, điểm sôi, nhiệt dung riêng và hoạt tính phản ứng bề mặt. Như vậy, kích thước nano đã làm biến đổi tính chất vật liệu và với những tính chất mới này chúng ta đã, đang và sẽ đem lại nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trong và ngoai nước. Phân loại vật liệu nano Có nhiều cách phân loại vật liệu nói chung và vật liệu nano nói riêng. Mỗi cách phân loại đều dựa trên các đặc tính cơ bản của vật liệu, lĩnh vực ứng dụng, hình dạng hay kích thước của chúng,.
Sau đây là một số cách phân loại vật liệu nano thường gặp: - _ Phân loại vật liệu nano theo số chiêu (hình 1.2): e Vật liệu nano không chiều (OD) là loại vật liệu mà cả ba chiều đều đạt kích thước nano. e Vật liệu nano một chiều (1D) là loại vật liệu mà có một chiều đạt kích thước nano, vật liệu này thường được thấy ở các loại màng mỏng, lớp phủ bề mặt, như các mạch điện con chip máy tính, lớp chống phản xạ và cứng phủ trên kính đeo mắt. Vật liệu này được kiểm soát sao cho độ dày gần như chỉ gồm một nguyên tử, được gọi là “monolayer”. e Vật liệu nano hai chiều (2D) là loại vật liệu có hai chiều đạt được kích thước nano, ví dụ như các tam phim hai chiều, các loại Ống nano.
e Vật liệu nano ba chiều (3D) là loại vật liệu mà tất cả các kích thước của chúng vượt qua phạm vi nano mét. Chúng bao gồm các vật liệu rời gồm các khôi riêng lẻ ở quy mô nanomet. 0-d & lóc 1d oe an * ` số ẳồẦ\NC se. (HH spheres and nanofibers, thin films, plates bulk nanomaterials clusters wires androds Hình 1.
Phân loại vật liệu nano theo số chiều - _ Phân loại vật liệu nano theo hình dang: Các đặc tính liên quan đến hình thái như mặt phẳng, khối cầu và tỉ lệ giữa các mặt. Trong trường hợp chung, có thé phân loại theo tỉ lệ giữa các mặt là: tỉ lệ cao bao gồm ống nano và dây nano với nhiều hình dạng khác nhau (hình dây xoắn, hình zigzag,.) và tỉ lệ nhỏ bao gồm các hạt hình cau, oval, hình lập phương, tháp, cột,. Các phần tử này tồn tại dưới dạng bột, chất keo hoặc các hạt lơ lửng. - Theo nguồn gốc của vật liệu, người ta phân loại thành các nhóm sau: e Vat liệu nano tự nhiên: là những vật liệu thiên nhiên có kích thước nanomet.
Vi dụ: các virut, các phân tử protein bao gôm cả kháng thê có nguôn gôc từ thiên nhiên và một số vật liệu nano tự nhiên có cấu trúc nano, ngoài ra còn có khoáng sản như đất sét, các chất keo tự nhiên, chăng hạn như sữa và máu (chất keo lỏng), sương mù (loại bình phun), gelatin (loại gel), vật liệu tự nhiên khoáng, chăng hạn như vỏ sò, san hô, xương và cánh côn trùng. e Vat liệu nano nhân tao: là vật liệu được con người tạo ra thông qua một hoặc một số quá trình vật lí và hóa học được xác định rõ, ví dụ, các ống nano cacbon, các hạt nano bán dẫn ZnO, TiO», các chấm lượng tử,. - Dua vào tinh dong nhất và sự ngưng tụ của các hạt nano: Các hạt nano có thé phân tán như các hạt lơ lửng, chất keo hoặc tồn tại ở dạng ngưng tụ. Ở dạng tích tụ, các phân tử nano có tính chất như những hạt lớn.
Các đặc tính bề mặt cũng như từ tính chịu chi phối bởi các đặc tính về hạt và hình dạng của hạt nano. Một số lĩnh vực ứng dụng công nghệ nano Có thể nói, vật liệu nano đã, đang và sẽ là một dạng vật liệu tiềm năng có thê mở ra nhiều ứng dụng đột phá trong tương lai. Sau đây là một số lĩnh vực tiềm năng: e Điện tử - quang điện tử: gom các linh kiện điện tử, bộ nhớ, các vật liệu bán ~ dan,. x e Công nghiệp hóa học: chất xúc tác, chất mau, kỹ thuật in laze, chế pham thuốc,.
e Công nghiệp năng lượng: vật liệu tích trữ năng lượng, pin hiđro, pin mặt troi,. e Y sinh: thuốc chữa bệnh, mô nhân tao, các chế phẩm sinh học, các phương pháp chuẩn đoán và chữa bệnh,. e Hàng không - vũ trụ: vật liệu siêu bền, siêu nhẹ, chịu nhiệt cao, chịu bức Xa,. e Công nghệ cảm biên: cảm biên nhạy khí độc, cam biên sinh hoc, robot,.
e Công nghệ xử lý môi trường: bột nano T1Oa, dưới tác dụng của tia cực tím, diệt khuẩn, khử không khí ô nhiễm,. sẻ Tuy nhiên, vật liệu nano cũng có những hạn chế nhất định như: kích thước hạt nhỏ, khó kiểm soát, khó thao tác trực tiếp, tiềm năng chưa được đánh giá đúng,.Mặc dù thế, nhưng nhìn chung vật liệu nano vẫn là vật liệu phi thường, biến những giấc mơ của con người trở thành sự thật. Cau trúc và tính chat của vật liệu perovskite 1. Cấu trúc tinh thể vật liệu perovskite Perovskite là tên gọi chung của các vật liệu có cau trúc giống như khoáng canxi titanat (CaTiO3).
Khoáng perovskite được phát hiện đầu tiên tại vùng núi Uran ở nước Nga vào năm 1839 bởi Geologist Gustav Rose và được đặt theo tên nhà khoáng vật học người Nga Count Lev Alexevich von Perovski (1792 — 1856) [9]. Cấu trúc perovskite được quan tâm nghiên cứu nhiều là do sự đa dạng về tính chất như cách điện, bán dẫn, siêu dẫn, kim loại,. Khoáng perovskite thuần có công thức tong quát là ABO¿. Trong đó, cation A có bán kính lớn hơn cation B, chúng cùng liên kết với oxi.
Cấu trúc perovskite ABO; lý tưởng có dạng hình lập phương (hình 1.3) với các thông số của 6 mạng cơ sở làa=b=c và z= =y = 90°. (a) (b) @ Vi trí của cation A © Vi tri cua anion O ® Vi tri cua cation B Hình 1. Cấu trúc peroskite lý twéng 10 Cấu trúc perovskite lý tưởng có thé được mô tả theo hình (a) hoặc hình (b). Trong cấu trúc hình 1.