Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất và dư lượng no 3 trong đậu trạch tại thái nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và dư lượng NO3 trong đậu trạch tại Thái Nguyên, cung cấp thông tin hữu ích cho nông nghiệp bền vững.

Trường đại học

Đại Học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa Học Cây Trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2014

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Mục đích

1.2.2. Yêu cầu

1.2.3. Ý nghĩa

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Giá trị của cây rau

2.2.1. Giá trị dinh dưỡng

2.2.2. Giá trị kinh tế

2.2.3. Giá trị khác

2.2.3.1. Giá trị y học
2.2.3.2. Giá trị xã hội

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm thời tiết, khí hậu vụ Đông xuân năm 2013 tại Thái Nguyên

3.2. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây đậu trạch

3.2.1. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của cây đậu trạch

3.2.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch

3.2.3. Ảnh hưởng của các mức đạm tới tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày)

3.2.4. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến tốc độ ra lá của cây đậu trạch

3.2.5. Tốc độ ra lá của cây đậu trạch

3.3. Tình hình sâu, bệnh hại ở đậu trạch

3.3.1. Bệnh phấn trắng

3.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến một số chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch

3.5. Sơ bộ hạch toán kinh tế

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu và cơ sở khoa học

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của phân bón đến năng suấtdư lượng NO3 trong cây đậu trạch tại Thái Nguyên. Phân bón đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp, đặc biệt là trong việc tăng sản lượngchất lượng nông sản. Tuy nhiên, việc sử dụng phân bón không hợp lý có thể dẫn đến dư lượng NO3 cao, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. Nghiên cứu này nhằm tìm ra liều lượng phân bón tối ưu để đạt được năng suất cao mà vẫn đảm bảo dư lượng NO3 trong ngưỡng cho phép.

1.1. Vai trò của phân bón trong nông nghiệp

Phân bón, đặc biệt là phân vô cơphân hữu cơ, là yếu tố không thể thiếu trong canh tác hiện đại. Chúng cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, giúp tăng năng suấtchất lượng nông sản. Tuy nhiên, việc sử dụng phân bón không cân đối có thể dẫn đến lãng phí và gây ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng phân bón hợp lý để đạt được hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp.

1.2. Ảnh hưởng của dư lượng NO3

Dư lượng NO3 trong nông sản là một vấn đề đáng quan tâm, đặc biệt là trong các loại rau như đậu trạch. NO3 có thể chuyển hóa thành nitrit, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá dư lượng NO3 trong đậu trạch khi sử dụng các liều lượng phân bón khác nhau, từ đó đề xuất các biện pháp canh tác phù hợp để giảm thiểu rủi ro này.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu được tiến hành tại Thái Nguyên trong vụ đông năm 2013. Các thí nghiệm được thiết kế để đánh giá ảnh hưởng của các mức bón đạm đến sinh trưởng, năng suất, và dư lượng NO3 trong đậu trạch. Kết quả cho thấy, liều lượng phân bón có ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu này. Cụ thể, việc bón phân đạm ở mức vừa phải giúp tăng năng suất mà không làm tăng dư lượng NO3 quá mức cho phép.

2.1. Đánh giá sinh trưởng và năng suất

Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, tốc độ ra lá, và năng suất được theo dõi chặt chẽ. Kết quả cho thấy, việc bón phân đạm ở mức 120 kg/ha giúp cây đậu trạch sinh trưởng tốt nhất và đạt năng suất cao nhất. Tuy nhiên, việc bón quá nhiều đạm (trên 150 kg/ha) không làm tăng năng suất đáng kể mà còn làm tăng dư lượng NO3 trong sản phẩm.

2.2. Phân tích dư lượng NO3

Dư lượng NO3 trong đậu trạch được phân tích bằng phương pháp hóa học. Kết quả cho thấy, dư lượng NO3 tăng tỷ lệ thuận với liều lượng phân đạm bón vào. Ở mức bón 120 kg/ha, dư lượng NO3 vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo tiêu chuẩn của FAO. Tuy nhiên, ở mức bón 150 kg/ha, dư lượng NO3 vượt quá ngưỡng cho phép, gây nguy cơ cho sức khỏe người tiêu dùng.

III. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, việc sử dụng phân bón hợp lý là yếu tố then chốt để đạt được năng suất cao và chất lượng nông sản tốt. Liều lượng phân đạm 120 kg/ha được xem là tối ưu cho cây đậu trạch tại Thái Nguyên, giúp tăng năng suất mà vẫn đảm bảo dư lượng NO3 trong ngưỡng an toàn. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp quản lý đấtkỹ thuật canh tác để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

3.1. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đậu trạch tại Thái Nguyên và các vùng trồng tương tự. Việc sử dụng phân bón hợp lý không chỉ giúp tăng năng suất mà còn góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe người tiêu dùng. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các quy trình canh tác bền vững trong tương lai.

3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong việc tối ưu hóa sử dụng phân bón cho các loại cây trồng khác. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về dinh dưỡng cây trồngquản lý đất để đạt được hiệu quả cao nhất trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của con người. Bởi chúng cung cấp phần lớn các chất: vitamin, protein, khoáng, đường, tinh bột, chất xơ. đó là những chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với hoạt động sinh lý của con người, góp phần cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Đồng thời, rau còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh thế cao, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước.

Trước tình hình thế giới hiện nay, dân số ngày càng tăng do đó nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội,đời sống của con người được nâng cao hơn do đó ngoài việc đảm bảo đầy đủ số lượng còn phải nâng cao chất lượng lương thực, thực phẩm nên buộc ngành nông nghiệp phải sản xuất rau nhiều hơn. Vì vậy bón phân là một biện pháp làm tăng năng suất cây trồng để đáp ứng nhu cầu của con người. Trong vài thập niên gần đây, phân hóa học chiếm lĩnh chủ yếu trong các loại phân được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới.

Trong khi đó , Việt Nam lại là một trong những nước nhập khẩu phân bón nhiều. Hàng năm, chúng ta đã nhập khẩu 90 - 93% lượng phân đạm,30-35% lượng phân lân ,100% lượng phân kali (Đường Hồng Dật,2003). Tuy vậy, phân bón vẫn bị người dân sử dụng một cách lãng phí do thiếu kiến thức, do quan niệm sai lầm, do chưa hiểu hết tác dụng to lớn của bón phân hợp lí… Chính vì vậy, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm chỉ ở mức 35- 40%, phân lân và kali chỉ đạt 50% (Đường Hồng Dật, 2003). Như vậy chỉ tính riêng phân urê hàng năm chúng ta bón khoảng 2 triệu tấn, đã bị n 2 lãng phí khoảng 1,2 - 1,3 triệu tấn.

Do vậy, chỉ cần tăng thêm 5% thì hàng năm chúng ta đã tiết kiệm được ít nhất 100.000 tấn Urê tiết kiệm được một lượng tiền khá lớn cho nhân dân. Sử dụng phân hóa học liên tục, không hợp lý,cân đối, thiếu hiểu biết đã dẫn đến dư lượng nitrat tồn dư trong các sản phẩm nông sản cao gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng. Hàm lượng NO3- trong rau đã được coi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá rau “sạch” do một số tổ chức quốc tế, một số nước quy định ngưỡng hàm lượng NO3- trong rau. Đó cũng là tiêu chuẩn để các nước đánh giá chất lượng rau xuất, nhập khẩu.

Ở nước ta,đây cũng là chỉ tiêu khiến cho ngành xuất khẩu rau đã nhiều lần phải điêu đứng vì bị làm mất uy tín với khách hàng gây thiệt hại nhiều cho người sản xuất. Xuất phát từ những vấn đề trên và để đấp ứng cho nhu cầu của thực tiễn sản xuất, để góp phần vào việc tìm hiểu, nâng cao hiệu quả sử dụng của phân bón nói chung và phân đạm nói riêng tôi được giao nhiệm vụ tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và dư lượng nitrat (NO3-) trong đậu trạch tại Thái nguyên”. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích −Xác định liều lượng bón đạm thích hợp cho đậu đũa nhằm đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao mà dư lượng NO3- dưới ngưỡng cho phép 1.

Yêu cầu −Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây rau đậu trạch ở các công thức bón đạm khác nhau. −Đánh giá mức độ sâu, bệnh hại. −Phân tích dư lượng NO3- trong sản phẩm của cây rau đậu trạch n 3 - Sơ bộ hoạch toán hiệu quả kinh tế 1. Ý nghĩa - Các nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất và hàm lượng NO3- trong rau làm cơ sở khoa học cho các biện pháp kĩ thuật bón phân cân đối,hợp lý góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình sử dụng phân bón trong sản xuất rau nói chung, sản xuất cây đậu trạch an toàn nói riêng.

- Các kết quả nghiên cứu bón phân cân đối hợp lý bón cho rau sẽ được áp dụng có hiệu quả trên đất trường ĐH Nông Lâm-Thái Nguyên. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của cây trồng phụ thuộc chủ yếu vào tác dụng tổng hợp của 4 yếu tố: ánh sáng, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng. Trong điều kiện sản xuất, việc điều khiển các yếu tố để tăng cường sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng rất khác nhau.

Điều khiển chế độ nước, dinh dưỡng dễ dàng hơn và thực tế người ta coi phân bón là đòn bẩy tăng năng suất cây trồng. Cùng với cuộc cách mạng xanh về giống, nền nông nghiệp thâm canh ra đời đã vận dụng tối đa tác dụng của phân bón, đặc biệt là phân vô cơ. Tuy nhiên, bón nhiều phân chưa hẳn đã tốt, nồng độ hóa học cao có thể gây hại đối với cây trồng đồng thời ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe con người. Cây trồng cũng như các sinh vật khác, cơ thể có những giới hạn chịu đựng nhất định, vượt quá giới hạn đó cơ thể bị hủy hoại.

Bón một lượng phân lớn vượt quá nhu cầu của cây còn gây ra lãng phí, tồn dư trong đất và sản phẩm tăng. Trong mấy thập kỉ qua năng suất cây trồng đã không ngừng tăng lên,ngoài vai trò của giống mới, phân bón cũng có vai trò quyết định. Giống mới chỉ phát huy của tiềm năng cho năng suất khi được bón đầy đủ và hợp lý. PAO đã tổng kết phân bón không cân đối làm giảm hiệu suất sử dụng 20-50% (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [4].

Khi bón phân không chỉ bón một loại phân riêng rẽ mà phải kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ thì mới phát huy được hiệu quả cao và bền vững. Mặt khác, chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30% - 50%. Trong đó, mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đặt năng suất n 5 tối đa mà còn tìm lợi nhuận cao nhất. Cho nên con người phải tìm đến những biện pháp kỹ thuậ bón phân cân đối hợp lý cho từng loại cây trồng khác nhau.

Bón phân vô cơ là rất tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tuy nhiên nếu bón không đúng nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly không đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng dư lượng NO3- trong sản phẩm vượt quá ngưỡng cho phép ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và sức khẻo người tiêu dùng. Vì vậy, trong việc sử dụng phân đạm, kali hay bất cứ loại phân nào khác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng, loại đất, nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau… đồng thời, bón đúng chủng loại, đúng lúc đúng cách đúng nông độ, liều lượng, đảm bảo hời gian cách ly. như vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo vệ môi trường. Giá trị của cây rau 2.

Giá trị dinh dưỡng Rau là một loại thực phẩm rất cần thiết trong đời sống hằng ngày của con người. Rau cũng là loại thực phẩm không thể thay thế được. bởi lẽ, rau cung cấp rất nhiều dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của cơ thể con người như: Protein, vitamin, muối khoáng…Trong các loại rau gia vị còn có chất kháng sinh, các chất thơm, các chất hữu cơ… Trong đó, rau chứa hàm lượng vitamin và chất khoáng cao hơn hẳn một số cây trồng khác. So sánh thành phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc (A.A Shidique, 1985) đã cho thấy rau đặc biệt là rau ăn lá có hàm lượng vitamin và chất khoáng cao hơn lúa và lúa mỳ nhiều lần (Bùi xuân Quang, 1977).1: Giá trị dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc (tính trong 100g trọng lượng tươi Khoáng (mg) Cacbonhydr Calo Cây Độ ẩm (%) Protein (g) ate (g) (Kcalo) Caroten VTMC Canxi Fe Lúa 12,6 77,4 8,5 349 0,009 0 10 2,8 Lúa mỳ 12,8 71,2 11,8 346 0,064 0 41 4,9 n Rau ăn lá 88,5 4,3 2,9 36 6,80 54 145 9,0 Rau ăn thân 87,5 9,1 1,6 44 0,58 19 84 0,7 Rau ăn quả 88 8,4 2,2 46 1,00 25 35 0,8 Rau ăn củ 80,7 16,2 1,5 89 1,34 21 24 0,7 7 Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250- 300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm.

Rau cung cấp cho cơ thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như: các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein,lipit, chất xơ, vv. Trong rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5- 15% là chất khô. Trong chất khô lượng cacbon rất cao (cải bắp 60%, dưa chuột 74- 75%, cà chua 75-78%, dưa hấu 92%). Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường (chủ yếu đường đơn) chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon.

Nhờ khả năng hoà tan cao, chúng làm tăng sự hấp thu và lưu thông của máu, tăng tính hoạt hoá trong quá trình ôxy hoá năng lượng của các mô tế bào. Một số loại rau như khoai tây, đậu (nhất là đậu ăn hạt như đậu Hà Lan, đậu Tây), nấm, tỏi cung cấp 70 -312 calo/100g nhờ các chất chứa năng lượng như protit, gluxit. Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú và rẻ tiền. Rau có chứa các loại vitamin A (tiền vitamin A), B1, B2, C, E và PP vv.

Trong khẩu phần ăn của nhân dân ta, rau cung cấp khoảng 95 -99% nguồn vitamin A, 60 - 70% nguồn vitamin B (B1, B2, B6, B12) và gần 100% nguồn vitamin C. Vitamin có tác dụng làm cho cơ thể phát triển cân đối, điều hòa, các hoạt động sinh lý của cơ thể tiến hành bình thường. Thiếu một loại vitamin nào đó sẽ làm cho cơ thể phát triển không bình thường và phát sinh ra bệnh tật. Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh ta thường thấy xuất hiện các triệu chứng như da khô, mắt mờ, quáng gà.

do thiếu vitamin A; bệnh chảy máu chân răng, tay chân mỏi mệt,suy nhược do thiếu vita min C; miệng lưỡi lở loét, viêm ngứa chủ yếu do thiếu vitamin PP ; tê phù do thiếu vita min B(chủ yếu là B1)…Công tác, học tập sinh hoạt h à ng ngày mỗi người đều cần một lượng vitamin nhất định, nhu cầu vitamin hàng ngày mỗi người cần 100 mg C trong đó 90% lấy từ rau quả. n 8 Rau là nguồn cung cấp chất khoáng cho cơ thể. Rau chứa các chất khoáng chủ yếu như Ca, P, Fe, là thành phần cấu tạo của xương và máu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Phân Bón Đến Năng Suất Và Dư Lượng NO3 Trong Đậu Trạch Tại Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của phân bón đối với năng suất cây đậu trạch, cũng như mức độ dư lượng NO3 trong đất. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa việc sử dụng phân bón để nâng cao năng suất mà còn cảnh báo về những rủi ro liên quan đến dư lượng hóa chất trong sản phẩm nông nghiệp. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích để áp dụng vào thực tiễn canh tác, từ đó cải thiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi trình bày các phương pháp canh tác bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk sẽ cung cấp thêm thông tin về kỹ thuật bón phân cho cây cà phê, một loại cây trồng quan trọng khác. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của hóa chất trong nông nghiệp đến môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và bảo vệ môi trường.