Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ địa chất học của nghiên cứu sinh Lê Viết Hùng có tiêu đề: "Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất các trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng sông Hồng", được hoàn thành năm 2023 tại Viện Địa chất thuộc Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Luận án được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Quý Nhân và TS. Trần Quốc Cường, thuộc mã số chuyên ngành địa chất học 9440201.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có diện tích tự nhiên hơn 21.260 km², gồm 11 tỉnh và thành phố, là nơi sinh sống của khoảng 22,9 triệu người. Các tầng chứa nước dưới đất trong trầm tích Đệ tứ tại đây giữ vai trò cung cấp nguồn nước phục vụ sinh hoạt và phát triển kinh tế cho thủ đô Hà Nội cùng các đô thị công nghiệp như Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Hưng Yên. Hoạt động khai thác tài nguyên nước dưới đất chưa hợp lý tại một số khu vực đã dẫn đến nguy cơ hạ thấp mực nước, suy thoái, ô nhiễm và gia tăng xâm nhập mặn.

Lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất là thành phần cơ bản trong cân bằng nước dưới đất và là cơ sở tính toán trữ lượng khai thác bền vững. Các công trình nghiên cứu trước đây tại ĐBSH chủ yếu tính toán lượng bổ cập cho từng điểm quan trắc hoặc phạm vi hẹp mang tính địa phương, chưa thực hiện đồng bộ trên toàn vùng. Đồng thời, việc phân vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa cho các trầm tích Đệ tứ trên toàn bộ diện tích đồng bằng chưa từng được giải quyết có hệ thống. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng, định lượng bổ cập và phân vùng tiềm năng trên quy mô toàn vùng đồng bằng là yêu cầu khoa học và thực tiễn cấp bách.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hệ thống mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Mục tiêu tổng quát: Xác định các yếu tố ảnh hưởng và tính toán lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất các trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng sông Hồng.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố ảnh hưởng chính và các yếu tố ảnh hưởng thứ yếu đến lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất vùng ĐBSH.
    • Mục tiêu 2: Phân vùng tiềm năng bổ cập nước dưới đất và xác định lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất các trầm tích Đệ tứ vùng ĐBSH.
    • Mục tiêu 3: Đánh giá vai trò của thành phần cung cấp thấm từ nước mưa trong sự hình thành trữ lượng nước dưới đất trầm tích Đệ tứ vùng ĐBSH.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước mưa, nước dưới đất trong các trầm tích Đệ tứ đồng bằng sông Hồng và các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất.
  • Phạm vi không gian: Vùng nghiên cứu có diện tích trên 14.860 km² thuộc ĐBSH (tọa độ địa lý từ 19°5′ đến 21°34′ vĩ độ Bắc và từ 105°17′ đến 107°7′ kinh độ Đông), giới hạn phía Bắc bởi dãy núi Tam Đảo - Yên Tử, phía Nam bởi dãy núi Ba Vì - Viên Nam, và phía Đông bởi đường bờ biển vịnh Bắc Bộ kéo dài khoảng 200 km.
  • Phạm vi đối tượng địa chất thủy văn: Luận án tập trung nghiên cứu tầng chứa nước trên cùng, chủ yếu là tầng chứa nước Holocen (qh) và một phần nhỏ diện tích lộ ra trên mặt của tầng chứa nước Pleistocen (qp).
  • Phạm vi thời gian và tư liệu: Chuỗi số liệu khí tượng thủy văn được thu thập, phân tích trong giai đoạn 1960–2018; chuỗi số liệu quan trắc mực nước dưới đất và chỉnh lý mô hình cập nhật đến giai đoạn 2018–2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về bổ cập nước dưới đất trên thế giới theo 6 nhóm phương pháp chủ đạo:

  • Nhóm phương pháp quan trắc biến động mực nước (Water Table Fluctuation - WTF): Delin và cộng sự (2007) áp dụng tại Minnesota xác định lượng bổ cập chiếm 6–56% lượng mưa; Risser và cộng sự (2005) nghiên cứu tại Pennsylvania ghi nhận tỷ lệ 25–94%; Coes và cộng sự (2007) xác định tỷ lệ 19–48% lượng mưa tại đồng bằng ven biển Bắc Carolina; Rutledge (2000) phát triển chương trình RORA phân tích đường cong suy giảm dòng chảy; Heppner, Nimmo và Risser (2007) tổng kết các hạn chế của phương pháp WTF ở vùng khí hậu ẩm.
  • Nhóm phương pháp cân bằng nước: T.S. Steenhuis và cộng sự (1985) tính toán tại Long Island (New York) cho thấy bổ cập chiếm tới 50% lượng mưa năm; Henry và cộng sự (1992) đánh giá tác động của đô thị hóa tại quận Nassau (New York) làm lượng bổ cập tăng 12% ở nội thành nhờ hệ thống thu gom thấm tập trung và giảm 10% ở ngoại ô; Healy và Gray (1989), Szilagyi và Ayers (2003) nghiên cứu cân bằng nước và dòng chảy cơ bản.
  • Nhóm phương pháp mô hình số: Laura và cộng sự (2002) áp dụng mô hình thấm sâu (Deep Percolation Model - DPM) và cân bằng Clorua tại đảo San Juan (Washington), ghi nhận bổ cập từ 12,7–76,2 mm/năm ở trầm tích sông băng và đạt 228,6 mm/năm ở vùng cát; Dirk Bertrand (2011) dùng Hydrus 1D và GIS tại lưu vực Nete (Bỉ) tính toán bổ cập 391 mm/năm và dự báo biến đổi khí hậu làm giảm 9% bổ cập vào năm 2100; Ali (2013) tích hợp MODFLOW và GIS tại lưu vực Jafr (Jordan) cho thấy 95% bổ cập tập trung vào mùa đông; McDonald và Harbaugh (1988) công bố mô hình dòng chảy ba chiều sai phân hữu hạn MODFLOW.
  • Nhóm phương pháp chất chỉ thị (Tracers): D. Adomako và cộng sự (2010) sử dụng đồng vị bền ²H, ¹⁸O kết hợp Hydrus 1D và phương pháp peak-shift tại lưu vực sông Densu (Ghana), xác định bổ cập chiếm 6–14% lượng mưa; Parlov và cộng sự (2019) dùng mô hình cân bằng khối lượng đồng vị 2 và 3 thành phần tại Zagreb (Croatia) xác minh sông Sava cung cấp từ 67,5% đến 83,74% nước cho tầng chứa nước; các nghiên cứu của Allison và Hughes (1975), Robertson và Cherry (1989), Michel (1991), Ekwurzel và cộng sự (1994), Clark và Soloman (1997) về Tritium (³H), CFCs, ⁸⁵Kr.
  • Nhóm quan trắc đới thông khí (Lysimeter): Allen và cộng sự (1991), Evett và cộng sự (1995), Gburek và Folmar (1999) đo lượng bốc thoát hơi và dịch chuyển ẩm qua tầng đất chưa bão hòa.
  • Nhóm viễn thám và GIS: Senthilkumar (2019) tại Amaravathi (Ấn Độ) phân chia 4 vùng tiềm năng; Patil và cộng sự (2014) tại Maharashtra phân chia 3 vùng; Preeja và cộng sự (2011) tại Kerala kết hợp ảnh Landsat ETM+ và bản đồ địa hình phân loại 4 cấp tiềm năng.
  • Báo cáo tổng hợp của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS, 2020) chỉ ra rằng ở các vùng khí hậu ẩm ướt của Mỹ, lượng bổ cập trung bình từ nước mưa dao động trong khoảng 10% đến 60% lượng mưa.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu trong nước:

  • Phương pháp WTF và Bindeman: Phan Văn Trường (2011) xác định hệ số bổ cập ngầm vùng cát ven biển Quảng Bình đạt 15–77% trong mùa mưa; Nguyễn Đức Rỡi (2014) tính lượng bổ cập tại Văn Lâm (Hưng Yên) là 427 mm/năm (34,1% lượng mưa) và thành phố Hưng Yên là 547 mm/năm (38,1% lượng mưa); Nguyễn Minh Lân (2018) nghiên cứu quan hệ thủy lực sông Hồng và các tầng chứa nước qh, qp từ Sơn Tây đến Hưng Yên; Nguyễn Minh Kỳ (2019) áp dụng tại Dĩ An (Bình Dương).
  • Phương pháp cân bằng nước: Nguyễn Minh Khuyến (2015) xác định cơ cấu bổ cập tại Bình Thuận - Ninh Thuận gồm nước mưa mùa mưa chiếm 66,2%, mùa khô chiếm 21,7%; Nguyễn Thị Ngọc Dung (2006) sử dụng sân cân bằng tại Đan Phượng - Hoài Đức tính lượng bổ cập từ nước mưa đạt 0,283–0,3 mm/ngày (tương đương 7% lượng mưa).
  • Phương pháp mô hình số: Phạm Quý Nhân (2000) dùng MODFLOW tính toán lượng bổ cập từ nước mưa vào các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ ĐBSH chiếm 56,28% vào mùa khô và 84,11% vào mùa mưa; Đoàn Văn Cánh (2015) dùng MODFLOW đánh giá tài nguyên dự báo ĐBBB; Hoàng Minh Tuyển và cộng sự (2017) dùng mô hình SWAT trên lưu vực sông Đồng Nai xác định bổ cập đạt 100–600 mm/năm (tỷ lệ 2–30%); Triệu Đức Huy (2021) xác định điều kiện biên thấm vùng Tây Nam Hà Nội.
  • Phương pháp đồng vị: Trần Thành Lê (2011) dùng đồng vị ¹⁸O, ²H và ³H tại Thạch Thất - Đan Phượng xác định nước sông cấp cho tầng Holocen mùa mưa chiếm 85–88%; Phạm Quý Nhân, Đặng Trần Trung, Trần Thành Lê (2014) xác định đóng góp của nước sông Hồng tại các bãi giếng Hạ Đình (50%), Mai Dịch (52%), Pháp Vân (57%); Postma và cộng sự (2016) dùng đồng vị ³H–³He tại Nam Dư (Hà Nội); Larsen và Phạm Quý Nhân (2008) tại Đan Phượng so sánh lượng bổ cập theo MODFLOW (60–100 mm/năm) và theo ³H/³He (195 mm/năm).
  • Phương pháp viễn thám và GIS: Hà Quang Khải (2014) lập quan hệ tuyến tính giữa tốc độ bổ cập và lượng mưa hiệu quả tại TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Nghĩa (2016) đánh giá đô thị hóa làm suy giảm 50–60% lượng bổ cập nước dưới đất tại Hà Nội giai đoạn 2001–2015 so với giai đoạn 1990–2000.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình tại ĐBSH mới dừng lại ở việc tính toán cục bộ cho từng bãi giếng, tuyến quan trắc riêng biệt hoặc tính gộp chung nguồn bổ cập. Chưa có công trình nào tích hợp viễn thám, GIS, phân tích thứ bậc AHP để phân vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa trên toàn bộ quy mô đồng bằng, đồng thời kết hợp đồng vị môi trường (³H, ¹⁸O, ²H), sân cân bằng (phương trình sai phân Kamenxki) và mô hình số dòng thấm MODFLOW để kiểm chứng định lượng độc lập.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án kế thừa hệ thống lý thuyết địa chất thủy văn của Đoàn Văn Cánh (2015), Zektser và Bindeman (1970):

  • Tài nguyên nước dưới đất (TNNDĐ): Thể tích, dung tích nước tồn tại, vận động trong tầng chứa nước đáp ứng tiêu chuẩn khai thác có hiệu quả kinh tế. TNNDĐ cấu thành từ tài nguyên tích chứa (trọng lực, đàn hồi) và tài nguyên bổ cập trong điều kiện tự nhiên.
  • Trữ lượng có thể khai thác (TLCTKT): Lượng nước lấy ra từ tầng chứa nước trong một thời gian xác định mà không gây sụt lún đất, không gây xâm nhập mặn và không gây suy thoái ô nhiễm.
  • Trữ lượng khai thác nước dưới đất: Đại lượng đặc trưng bằng lưu lượng (m³/ngày, l/s), không phải khối lượng tĩnh.
  • Bổ cập nước dưới đất (Groundwater recharge): Quá trình nước chuyển động qua đới chưa bão hòa cung cấp vào tầng chứa nước, gồm bổ cập tự nhiên (thấm thẳng đứng từ nước mưa, thấm từ sông hồ, thấm xuyên giữa các tầng) và bổ cập nhân tạo. Luận án tập trung vào quá trình thấm thẳng đứng từ nước mưa vào tầng chứa nước Holocen.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp viễn thám: Phân tích ảnh vệ tinh Landsat (cảm biến ETM+, OLI), mô hình số độ cao SRTM DEM để chiết xuất các thông tin lớp phủ bề mặt, hiện trạng sử dụng đất, mạng lưới dòng chảy và độ dốc địa hình.
  2. Phương pháp phân tích không gian trong GIS: Sử dụng phần mềm ArcGIS chồng xếp các lớp dữ liệu chuyên đề để tính toán chỉ số tiềm năng bổ cập nước dưới đất (Groundwater Recharge Index - GRI).
  3. Phương pháp chuyên gia và phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP): Thu thập phiếu tham vấn ý kiến chuyên gia về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, xây dựng ma trận so sánh cặp, kiểm tra chỉ số nhất quán (CR < 0,1) để xác định trọng số cho từng yếu tố.
  4. Phương pháp thủy văn đồng vị: Phân tích đồng vị bền ¹⁸O, ²H (bằng thiết bị quang phổ Cavity Ring-down Spectroscopy - CRDS so với chuẩn quốc tế VSMOW) và đồng vị phóng xạ Triti ³H (bằng kỹ thuật đếm nhấp nháy lỏng - LSC) nhằm xác định nguồn gốc nguồn nước, tuổi tương đối và tốc độ bổ cập nước dưới đất.
  5. Phương pháp phân tích giải tích tại sân cân bằng: Sử dụng công thức sai phân hữu hạn của G.N. Kamenxki dựa trên quan trắc dao động mực nước dưới đất tại cụm giếng khoan sân cân bằng Thọ An (huyện Đan Phượng, Hà Nội) để tính giá trị cung cấp thấm thẳng đứng thực tế từ nước mưa.
  6. Phương pháp mô hình số dòng thấm: Ứng dụng phần mềm MODFLOW thiết lập mô hình dòng chảy ba chiều cho toàn bộ trầm tích Đệ tứ ĐBSH, hiệu chỉnh và kiểm định mực nước tính toán với chuỗi mực nước thực đo tại mạng lưới quan trắc quốc gia, từ đó trích xuất cân bằng nước theo thời gian và không gian.
Nhóm dữ liệu đầu vào Nguồn gốc và quy cách dữ liệu Mục đích sử dụng
Khí tượng thủy văn Chuỗi số liệu lượng mưa, bốc hơi, nhiệt độ tại 9 trạm quan trắc ĐBSH (1960–2018) Tính toán cân bằng ẩm và đánh giá yếu tố lượng mưa
Viễn thám và độ cao số Ảnh Landsat, mô hình độ cao số SRTM DEM, bản đồ địa mạo Xây dựng các lớp chuyên đề độ dốc, lớp phủ bề mặt, địa mạo
Quan trắc mực nước Mạng quan trắc quốc gia TTQHĐTTNNQG (đến năm 2018 và tháng 2/2021) Xác định chiều sâu mực nước, hiệu chỉnh mô hình MODFLOW
Thí nghiệm đồng vị Mẫu nước mưa, nước mặt, nước dưới đất phân tích tại INST và đối tác Đánh giá tuổi nước, đường nước khí tượng, cơ cấu bổ cập
Sân cân bằng Thọ An Cụm giếng quan sát tầng Holocen tại huyện Đan Phượng Tính thấm nước mưa theo phương trình sai phân Kamenxki

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu và các nghiên cứu về bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất

Chương này tổng thuật điều kiện tự nhiên khu vực ĐBSH và các công trình khoa học liên quan:

  • Điều kiện địa hình: Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chuyển tiếp từ bậc thềm cao 7–15 m xuống bãi bồi 2–4 m và bãi triều ven biển dưới 1 m; rải rác có các đồi núi sót cao từ 25–45 m đến 100 m.
  • Khí hậu và lượng mưa: Khí hậu nhiệt đới gió mùa. Lượng mưa trung bình nhiều năm của đồng bằng dao động từ 1.200 mm đến 2.700 mm, tập trung phổ biến quanh mức 1.800 mm. Mùa mưa (tháng V đến X) chiếm 80–87% lượng mưa cả năm; mùa khô (tháng XI đến IV năm sau) chỉ chiếm 13–20%.
  • Bốc hơi và nhiệt độ: Lượng bốc hơi trung bình năm từ 828,2 mm đến 1.057,1 mm (thấp hơn Nam Trung Bộ và Tây Nguyên do độ ẩm không khí cao). Nhiệt độ trung bình năm toàn vùng dao động từ 23,0 đến 23,5 °C.
Trạm khí tượng Lượng mưa TB năm (mm) Lượng mưa cực đại (mm/năm) Lượng mưa cực tiểu (mm/năm) Bốc hơi TB năm (mm) Nhiệt độ TB năm (°C)
Sơn Tây 1.811,1 2.876,3 (năm 1981) 1.115,1 (năm 1970) 821,1 23,3
Hà Nội (Láng) 1.688,5 2.536,0 (năm 1994) 1.219,5 (năm 1995) 989,1 23,5
Phủ Lý 1.755,9 3.161,6 (năm 1994) 1.265,2 (năm 1998) 845,8 23,3
Nam Định 1.740,5 3.005,3 (năm 1994) 975,7 (năm 1988) 835,9 23,4
Hải Dương 1.548,8 2.347,0 (năm 1973) 964,2 (năm 1988) 983,1 23,3
Hưng Yên 1.718,2 2.488,3 (năm 1994) 1.078,2 (năm 1988) 949,9 23,3
Ninh Bình 1.820,3 2.992,5 (năm 1994) 1.160,0 (năm 1991) 851,7 23,4
Thái Bình 1.779,7 3.195,6 (năm 1973) 915,3 (năm 1994) 870,9 23,3
Phù Liễn 1.765,2 2.653,3 (năm 1974) 1.221,9 (năm 2001) 698,0 23,0
Giá trị trung bình 1.736,5 - - 871,7 23,3
  • Thủy văn và hải văn: Mật độ sông suối trung bình từ 0,4 đến 0,7 km/km². Sông Hồng có lưu lượng bình quân 2.640 m³/s, tổng lượng dòng chảy năm đạt 83,5 tỷ m³. Nước mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông từ 25 đến 45 km.

Chương 2. Đặc điểm địa chất, địa mạo, địa chất thủy văn khu vực nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết bối cảnh thạch học, cấu trúc và địa tầng:

  • Các thành tạo trước Đệ tứ: Lớp móng gồm đá biến chất phức hệ sông Hồng, đá Tiền Cambri, Paleozoi - Mezozoi. Tầng phủ Kainozoi gồm phân tầng dưới (Eocen - Oligocen: hệ tầng Phù Tiên, Đình Cao), phân tầng giữa (Miocen: hệ tầng Phong Châu, Phủ Cừ, Tiên Hưng) và phân tầng trên (Pliocen: hệ tầng Vĩnh Bảo).
  • Trầm tích Đệ tứ: Phân chia thành 5 hệ tầng tương ứng 5 chu kỳ trầm tích:
    • Thống Pleistocen: Hệ tầng Lệ Chi ($Q_1^1 lc$) gặp ở độ sâu 45–70 m, dày 5–25 m; hệ tầng Hà Nội ($Q_1^{1-2-3} hn$) dày 5–40 m gồm cuội sỏi, cát thô chuyển lên cát pha sét; hệ tầng Vĩnh Phúc ($Q_1^{2-3} vp$) dày 5–40 m nguồn gốc aluvi và sông - biển.
    • Thống Holocen: Hệ tầng Hải Hưng ($Q_2^{1-2} hh$) dày 2–35 m nguồn gốc sông, vũng vịnh, đầm lầy; hệ tầng Thái Bình ($Q_2^3 tb$) phân bố trên mặt với bề dày biến đổi từ 1 m ở rìa đồng bằng đến 20 m ở ven biển.
  • Các giai đoạn thành tạo tướng trầm tích Holocen: Gồm 22 tướng trầm tích hình thành qua 3 giai đoạn: giai đoạn vũng vịnh (5 tướng, hình thành khi biển tiến cực đại), giai đoạn châu thổ (11 tướng, tốc độ bồi tụ nhanh hơn lún chìm), giai đoạn aluvi (6 tướng, sông lắng đọng vật liệu bồi tích trên bề mặt châu thổ bằng phẳng).
  • Kiến tạo: ĐBSH chịu hoạt động tách giãn sụt lún mạnh trong Tân kiến tạo, bị phân cắt bởi hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam (đứt gãy sông Hồng, sông Lô, sông Chảy) tạo cấu trúc ô mảng dạng bậc.

Chương 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày các bước chuẩn bị dữ liệu và quy trình tích hợp phương pháp:

  • Quy chuẩn hóa dữ liệu viễn thám và GIS: Lập cơ sở dữ liệu các bản đồ chuyên đề tỷ lệ vùng ĐBSH.
  • Quy trình AHP: Tham vấn chuyên gia thuộc các lĩnh vực địa chất, địa chất thủy văn, tài nguyên nước; tính toán ma trận so sánh cặp, chuẩn hóa véc tơ riêng và xác định trọng số.
  • Thiết lập sân cân bằng: Bố trí hệ thống giếng quan sát mực nước tầng Holocen tại Thọ An (Đan Phượng), thiết lập phương trình Kamenxki xác định lượng thấm: $$W = \mu \frac{\Delta H}{\Delta t} + \Delta q$$
  • Quy trình mô hình MODFLOW: Rời rạc hóa không gian vùng nghiên cứu thành lưới sai phân hữu hạn, gán các điều kiện biên (biên sông, biên biển, biên đá gốc rìa đồng bằng, biên thấm nước mưa trên mặt), hiệu chỉnh các thông số hệ số thấm ($k$), hệ số nhả nước trọng lực ($\mu$) và nhả nước đàn hồi ($S^*$).

Chương 4. Các yếu tố ảnh hưởng, phân vùng tiềm năng và kết quả xác định lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất tầng chứa nước Holocen vùng đồng bằng sông Hồng

Chương này xác lập 8 yếu tố tự nhiên chi phối trực tiếp đến khả năng thấm bổ cập từ nước mưa:

  1. Lượng mưa năm: Phân bố lượng mưa quyết định nguồn cung cấp đầu vào trên lưu vực.
  2. Lớp phủ bề mặt và hiện trạng sử dụng đất: Rừng cây, đất nông nghiệp tạo điều kiện thấm tốt hơn vùng đất đô thị hóa bị bê tông hóa.
  3. Loại đất bề mặt: Đất cát, cát pha có tốc độ thấm cao hơn đất sét, sét pha.
  4. Thành phần thạch học trầm tích Đệ tứ và đá gốc: Các trầm tích hạt thô tạo điều kiện thuận lợi cho nước mưa ngấm xuống sâu.
  5. Chiều sâu mực nước dưới đất: Quyết định chiều dày đới chưa bão hòa và dung lượng chứa nước tự do.
  6. Địa mạo: Bề mặt bãi bồi, bậc thềm tích tụ giữ nước tốt hơn các bề mặt dốc bóc mòn.
  7. Độ dốc địa hình: Địa hình bằng phẳng làm chậm dòng chảy tràn bề mặt, gia tăng lượng thấm.
  8. Mật độ sông suối: Chi phối mối quan hệ thoát nước mặt và thoát dòng ngầm.

Áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP và xử lý không gian trong GIS, tác giả đã lập bản đồ chỉ số tiềm năng bổ cập (GRI) và phân chia ĐBSH thành 3 vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa:

  • Vùng tiềm năng bổ cập thấp: Lượng bổ cập trung bình đạt 188 mm/năm.
  • Vùng tiềm năng bổ cập trung bình: Lượng bổ cập trung bình đạt 372 mm/năm.
  • Vùng tiềm năng bổ cập cao: Lượng bổ cập trung bình đạt 429 mm/năm.

Kết quả phân tích đồng vị phóng xạ ³H và số liệu sân cân bằng Thọ An cho thấy lượng bổ cập tính toán theo các phương pháp giải tích và đồng vị phù hợp chặt chẽ với các vùng tiềm năng được phân chia từ mô hình AHP - GIS.

Chương 5. Vai trò của nước mưa đối với sự hình thành trữ lượng nước dưới đất trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng sông Hồng

Sử dụng mô hình dòng chảy ba chiều MODFLOW đã hiệu chỉnh đạt độ tin cậy qua chuỗi quan trắc thực tế, luận án đã định lượng vai trò của các nguồn cung cấp cho các tầng chứa nước:

  • Tầng chứa nước Holocen (qh): Nước mưa là nguồn cung cấp trực tiếp và chủ đạo. Vào mùa mưa, lượng bổ cập từ nước mưa chiếm tới hơn 67,63% tổng lượng cấp của tầng chứa nước; vào mùa khô, tỷ lệ này suy giảm rõ rệt và chỉ còn chiếm 9,75% tổng lượng cung cấp do bốc hơi tăng và lượng mưa giảm.
  • Tầng chứa nước Pleistocen (qp): Nước mưa bổ cập gián tiếp thông qua thấm xuyên từ tầng Holocen ở những nơi cửa sổ địa chất thủy văn (không có tầng sét cách nước Hải Hưng ngăn cách) và thấm trực tiếp tại các dải lộ ven rìa bậc thềm phù sa cổ phía Bắc và Tây Bắc.
  • Cân bằng tổng thể: Lượng nước mưa thấm thẳng đứng là thành phần động lực chính duy trì trữ lượng tĩnh và trữ lượng động của toàn bộ khối trầm tích Đệ tứ ĐBSH.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học

  1. Đề xuất hệ phương pháp tích hợp đa quy mô nhằm xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất trầm tích Đệ tứ ĐBSH. Hệ phương pháp này phối hợp đồng bộ giữa viễn thám, GIS, tiến trình phân tích thứ bậc AHP, phương pháp đồng vị môi trường (³H, ¹⁸O, ²H), giải tích sai phân hữu hạn Kamenxki tại sân cân bằng và mô hình số thủy động lực học MODFLOW.
  2. Lần đầu tiên xây dựng bản đồ phân vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất trên toàn bộ quy mô đồng bằng sông Hồng, xác lập 3 vùng tiềm năng với giá trị bổ cập trung bình tương ứng là 188 mm/năm (tiềm năng thấp), 372 mm/năm (tiềm năng trung bình) và 429 mm/năm (tiềm năng cao).
  3. Định lượng rõ ràng vai trò của nước mưa trong cấu trúc cân bằng nước dưới đất trầm tích Đệ tứ: Nước mưa cung cấp quanh năm nhưng có sự phân hóa mùa sâu sắc, chiếm hơn 67,63% tổng lượng bổ cập vào mùa mưa và giảm xuống còn 9,75% vào mùa khô.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ứng dụng bản đồ phân vùng tiềm năng bổ cập nước dưới đất vào công tác quy hoạch không gian khai thác tài nguyên nước tại 11 tỉnh, thành phố vùng ĐBSH.
  • Thiết lập các hành lang bảo vệ bổ cập tại các khu vực có tiềm năng bổ cập cao (đặc biệt là dải bãi bồi ven sông Hồng và vùng rìa thềm phù sa cổ), hạn chế quá trình bê tông hóa bề mặt để bảo tồn nguồn bổ cập tự nhiên.
  • Duy trì và mở rộng mạng lưới quan trắc chuyên đề kết hợp quan trắc mực nước tự động với lấy mẫu phân tích đồng vị định kỳ để cập nhật chuẩn xác các tham số thấm trong điều kiện đô thị hóa và biến đổi khí hậu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu tập trung định lượng chi tiết cho tầng chứa nước trên cùng (tầng Holocen qh) và các phần lộ của tầng Pleistocen (qp); cơ chế thấm xuyên qua các lớp sét cản nước của hệ tầng Hải Hưng xuống các thấu kính sâu của tầng Pleistocen mới được mô phỏng khái quát qua mô hình số mà chưa có nhiều cụm quan trắc thấm xuyên tầng sâu đồng thời.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục hoàn thiện mô hình cân bằng nước chi tiết dưới kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng; nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa cực đoan đến chất lượng nước mưa thấm bổ cập tại các vùng bổ cập cao ven đô thị Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Địa chất thủy văn, Kỹ thuật địa chất, Quản lý tài nguyên nước và Môi trường có thể tham khảo quy trình tích hợp AHP - GIS với mô hình số MODFLOW và phương pháp đồng vị thủy văn.
  • Cán bộ quản lý tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia (TTQHĐTTNNQG), Sở Tài nguyên và Môi trường 11 tỉnh/thành phố ĐBSH: Sử dụng các số liệu phân vùng tiềm năng bổ cập để cấp phép khai thác hợp lý và khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia đồng bằng sông Hồng thành mấy vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa và giá trị bổ cập cụ thể của từng vùng là bao nhiêu?

Luận án phân chia toàn bộ đồng bằng sông Hồng thành 3 vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa:

  • Vùng có tiềm năng bổ cập thấp: Lượng bổ cập trung bình đạt 188 mm/năm.
  • Vùng có tiềm năng bổ cập trung bình: Lượng bổ cập trung bình đạt 372 mm/năm.
  • Vùng có tiềm năng bổ cập cao: Lượng bổ cập trung bình đạt 429 mm/năm.

2. Tỷ lệ đóng góp của nước mưa vào lượng bổ cập nước dưới đất trầm tích Đệ tứ ĐBSH biến động như thế nào giữa mùa mưa và mùa khô?

Theo kết quả mô hình hóa dòng thấm MODFLOW của luận án, tỷ lệ đóng góp của nước mưa có sự chênh lệch lớn theo mùa:

  • Trong mùa mưa: Lượng bổ cập từ nước mưa chiếm ưu thế tuyệt đối, đạt trên 67,63% tổng lượng bổ cập cho tầng chứa nước.
  • Trong mùa khô: Do lượng mưa giảm mạnh kết hợp với bốc hơi, lượng bổ cập từ nước mưa chỉ còn chiếm 9,75% tổng lượng cung cấp.

3. Tác giả đã xác định những yếu tố tự nhiên nào ảnh hưởng đến lượng bổ cập từ nước mưa cho nước dưới đất tầng Holocen ĐBSH?

Luận án xác lập 8 yếu tố tự nhiên ảnh hưởng gồm:

  1. Lượng mưa năm.
  2. Lớp phủ bề mặt và hiện trạng sử dụng đất.
  3. Loại đất bề mặt.
  4. Trầm tích Đệ tứ và đá gốc.
  5. Chiều sâu mực nước dưới đất.
  6. Địa mạo.
  7. Độ dốc địa hình.
  8. Mật độ sông suối.

4. Phương pháp nào được sử dụng để xác định lượng bổ cập thực tế từ nước mưa tại sân cân bằng Thọ An (Đan Phượng, Hà Nội)?

Tại sân cân bằng Thọ An, tác giả sử dụng phương trình sai phân hữu hạn của G.N. Kamenxki dựa trên chuỗi số liệu quan trắc mực nước dưới đất đa tầng theo thời gian để tính toán lưu lượng thấm thẳng đứng thực tế từ nước mưa vào tầng chứa nước Holocen.

5. Khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng có đặc trưng mưa và bốc hơi như thế nào trong chuỗi quan trắc 1960–2018?

Theo số liệu thống kê 9 trạm quan trắc giai đoạn 1960–2018 trong luận án:

  • Lượng mưa trung bình năm toàn vùng là 1.736,5 mm (dao động từ 1.200 mm đến 2.700 mm; trạm cao nhất ghi nhận tại Phủ Lý đạt 3.161,6 mm năm 1994, thấp nhất tại Thái Bình đạt 915,3 mm năm 1994). Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X, chiếm 80–87% tổng lượng mưa năm.
  • Lượng bốc hơi trung bình năm toàn vùng là 871,7 mm (biến đổi từ 828,2 mm đến 1.057,1 mm).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Viết Hùng đã giải quyết đồng bộ bài toán định lượng và phân vùng tiềm năng bổ cập từ nước mưa cho các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ vùng đồng bằng sông Hồng. Bằng việc kết hợp viễn thám, GIS, phân tích thứ bậc AHP, đồng vị thủy văn, sân cân bằng và mô hình số MODFLOW, nghiên cứu đã xác lập 8 yếu tố chi phối và chia đồng bằng thành 3 vùng tiềm năng với lượng bổ cập từ 188 đến 429 mm/năm. Kết quả khẳng định nước mưa là nguồn cung cấp chủ đạo chiếm hơn 67,63% lượng bổ cập trong mùa mưa, cung cấp luận cứ khoa học chính xác phục vụ quy hoạch và quản lý bền vững tài nguyên nước dưới đất vùng châu thổ sông Hồng.