Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng ứng dụng mô hình toán số telemac 2d nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng vỡ đập trị an lên khu vực hạ lưu

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu kỹ thuật xây dựng ứng dụng mô hình toán số telemac 2d nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng vỡ đập, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

128
11
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung

Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng không chỉ đối với con người mà còn đối với tất cả các sinh vật sống. Sự phát triển của dân số và kinh tế ngày càng làm tăng nhu cầu sử dụng nước. Tuy nhiên, sự phân bố nguồn nước tự nhiên lại không đều, dẫn đến tình trạng thiếu nước ở nhiều nơi. Để khắc phục tình trạng này, việc xây dựng các công trình hồ chứa, đặc biệt là hồ Trị An, đã được thực hiện. Hồ Trị An, được xây dựng từ năm 1988, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, với tác động của biến đổi khí hậu, nguy cơ vỡ đập trở thành một vấn đề đáng lo ngại. Đặc biệt, nghiên cứu về ảnh hưởng của hiện tượng vỡ đập đến vùng hạ lưu vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Do đó, nghiên cứu này nhằm ứng dụng mô hình toán số Telemac 2D để đánh giá tác động của vỡ đập Trị An đến vùng hạ lưu Đồng Nai – Sài Gòn.

II. Sự cần thiết của đề tài

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong việc quản lý nguồn nước. Hiện tượng vỡ đập có thể gây ra những thiệt hại lớn về người và tài sản, đặc biệt là tại vùng hạ lưu Đồng Nai – Sài Gòn, nơi tập trung dân cư đông đúc và kinh tế phát triển mạnh mẽ. Theo thống kê, nhiều vụ vỡ đập trên thế giới đã gây ra thiệt hại nặng nề, như vụ vỡ đập Banqiao ở Trung Quốc năm 1975. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu và dự báo các tác động của vỡ đập. Mô hình Telemac 2D được lựa chọn để mô phỏng tình huống vỡ đập, từ đó đánh giá các yếu tố như mực nước, vận tốc dòng chảy, thời gian truyền lũ và độ sâu ngập. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao khả năng ứng phó với thảm họa mà còn đóng góp vào việc quản lý nguồn nước hiệu quả.

III. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là ứng dụng mô hình toán số Telemac 2D để mô phỏng và đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng vỡ đập Trị An đến vùng hạ lưu. Nghiên cứu sẽ xây dựng hai kịch bản để xem xét mức độ nguy hiểm: kịch bản 1 là vỡ đập khi lũ thượng nguồn chưa kịp về, và kịch bản 2 là vỡ đập sau khi lũ đã về. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thu thập dữ liệu về thủy văn, xây dựng mô hình mô phỏng, và phân tích kết quả để đánh giá tác động. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho công tác quản lý và ứng phó với thảm họa, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về an toàn đập Trị An.

IV. Kết quả mô phỏng và phân tích

Kết quả mô phỏng cho thấy rằng hiện tượng vỡ đập Trị An sẽ tạo ra tác động rất lớn đến vùng hạ lưu Đồng Nai – Sài Gòn. Mô hình Telemac 2D cho phép tính toán chính xác các thông số như mực nước, vận tốc dòng chảy và thời gian truyền lũ. Kết quả cho thấy, trong kịch bản 1, mực nước có thể tăng cao đột biến, gây ngập lụt diện rộng, trong khi kịch bản 2 cho thấy sự gia tăng mực nước chậm hơn nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Các số liệu thu được từ mô phỏng này sẽ là cơ sở quan trọng cho các biện pháp ứng phó và giảm thiểu thiệt hại khi xảy ra sự cố. Điều này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý an toàn đập Trị An và các công trình thủy lợi khác trong khu vực.

V. Đề xuất giải pháp giảm thiểu thiệt hại

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số giải pháp giảm thiểu thiệt hại do vỡ đập Trị An được đề xuất. Đầu tiên, cần nâng cao khả năng giám sát và cảnh báo sớm đối với các hiện tượng bất thường liên quan đến an toàn đập. Thứ hai, cần xây dựng các hệ thống thoát lũ hiệu quả nhằm giảm thiểu áp lực lên đập trong trường hợp xảy ra lũ lớn. Cuối cùng, việc tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng về nguy cơ vỡ đập và các biện pháp ứng phó cũng rất quan trọng. Những giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho vùng hạ lưu Đồng Nai – Sài Gòn.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nước là nguồn tài nguyên quan trọng không chỉ đối với con người mà đối với tất cả các sinh vật sống và hàng loạt các quá trình khác trên trái đất. Theo thời gian, dân số và kinh tế ngày càng phát triển dẫn đến nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong khi đó, phân bố nguồn nước tự nhiên lại không đều theo không gian và thời gian.

Theo không gian, những nơi có nguồn nước được xem là dồi dào cả về chất lẫn lượng thì nhu cầu nước chưa hẳn đã lớn và ngược lại. Theo thời gian, những lúc có nhu cầu sử dụng lớn thì nguồn nước lại không đầy đủ hoặc thiếu trầm trọng. Do vậy, để khắc phục những hạn chế này đáp ứng nhu cầu sử dụng nước một cách tốt hơn, hàng loạt các hoạt động liên quan đến phát triển tài nguyên nước đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Xây dựng các công trình hồ chứa trên các lưu vực sông nhằm điều chỉnh sự phân bố một cách không cân bằng so với nhu cầu sử dụng là một trong những hoạt động mang lại hiệu quả cao.

Theo báo cáo của Uỷ hội quốc tế về đập (tháng 12 năm 2000) thì đến năm 1950 có ít nhất 45.000 đập lớn được xây dựng trên thế giới phục vụ cho việc phát điện, cấp nước và tưới. Đến đầu thế kỷ 21 này, vẫn còn khoảng 1/3 các quốc gia trên thế giới với một nửa nhu cầu điện năng của họ phụ thuộc vào thuỷ điện. Trong cơ cấu sản xuất điện tại Việt Nam, năm 1995 thuỷ điện chiếm 72,3%, và năm 2000 là 54,7%. Các hồ chứa lớn đã sản xuất khoảng 19% tổng lượng điện sử dụng trên thế giới.

Hơn một nửa số đập trên thế giới được xây dựng phục vụ tưới, và khoảng 40% trong tổng số 271 triệu ha diện tích tưới trên thế giới phụ thuộc vào sự cung cấp nước của các đập dâng, hồ chứa. Rõ ràng, việc xây dựng hồ chứa đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu sử dụng của con người. Tuy nhiên, việc phát triển xây dựng các công trình đập dâng/hồ chứa này đã dẫn đến các sự cố vỡ đập đã gây thiệt hại không nhỏ đối với người và của. Theo thống kê, từ năm 1945 đến 1965 có 36 đập bị hư hỏng trên tổng số 4500 đập được xây dựng (Jansen, 1988) và tính cho đến những năm 70 của thế kỷ trước, đã có khoảng 300 đập bị sự cố trên toàn thế giới (Johnson and Illes, 1976).

Có thể kể đến một số vụ vỡ đập nổi tiếng trên thế giới như đập Purentes ở Tây Ban Nha năm 1802, đập Dale Dyke ở Anh năm 1864, đập Habra ở Algeria năm 1881, đập South Fork ở _____________________________________________________________________ -3- ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TOÁN SỐ TELEMAC-2D NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG VỠ ĐẬP TRỊ AN LÊN VÙNG HẠ LƯU Mỹ năm 1889, đập St Francis ở Mỹ năm 1928, đập Malpasset ở Pháp năm 1959, đập Banqiao ở Trung Quốc năm 1975, đập Stava ở Ý năm 1985, trường hợp vỡ đập Vaiont ở Ý năm 1963 làm 2.600 người chết; vỡ đập Johnstown, ở Pennsylvania, Mỹ xảy ra năm 1889 làm 2.200 người chết; vỡ đập Machhu II ở Ấn độ xảy ra năm 1974 làm trên 2.000 người chết… Đập bị hư hỏng do nhiều nguyên nhân như do động đất, lún, thấm, nước tràn qua đỉnh, do xuống cấp, do thi công kém chất lượng, …Mặc dù xác suất đập bị hư hỏng là không lớn nhưng hậu quả do vỡ đập gây ra có thể rất nặng nề về nhân mạng, vật chất và môi trường ở vùng hạ lưu. Do đó, những dữ liệu dự báo đầy đủ về lưu lượng, vận tốc, chiều sâu dòng chảy lũ và thời gian lũ truyền đến các vị trí ở hạ lưu đập trở thành những thông tin quan trọng cho việc sẵn sàng ứng phó với tai họa vỡ đập nếu nó xảy ra. Bài toán thủy lực về vỡ đập ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học về khai thác và quản lý nguồn nước, bảo vệ môi trường, … nhất là trong tình hình có thể xảy ra các biến cố thủy văn cực hạn do biến đổi khí hậu hiện nay. Trải qua nhiều thập kỷ, đã có nhiều cố gắng liên tục nghiên cứu bài toán thủy lực về vỡ đập.

Trong thực tế do có nhiều khó khăn phát sinh đối với việc thực hiện đo đạc theo thời gian thực khi xảy ra vỡ đập nên phần lớn các nghiên cứu về vỡ đập được thực hiện trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên vì các mô hình vật lý thường bị khống chế bởi những tỉ lệ hình học nhỏ trong phòng thí nghiệm nên không thể biểu thị đầy đủ cơ chế dài hạn của dòng chảy. Điều này đúng đối với những thí nghiệm trên đáy lòng dẫn cứng (cố định) trước đây và mềm (di động) hiện nay. Về mặt lý thuyết, bài toán thủy lực về vỡ đập đã được phát triển từ lâu, xuất phát từ hệ phương trình Saint-Venant 1D (dòng chảy một phương).

Nhiều nhà khoa học đã cố gắng giải hệ phương trình đó bằng phương pháp giải tích. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của máy tính và tin học, việc nghiên cứu bài toán vỡ đập bằng mô hình toán số đã trở nên rất phổ biến, từ trường hợp 1D đến trường hợp 2DH (dòng chảy hai phương nằm ngang). Trên lưu vực sông Đồng Nai, các công trình hồ chứa lớn có vai trò rất đặc biệt không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong phạm vi lưu vực mà có ảnh hưởng lớn đối với vùng, quốc gia, đáng kể như các hồ thuỷ điện Đa Nhim (1964), Trị An _____________________________________________________________________ -4- ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TOÁN SỐ TELEMAC-2D NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG VỠ ĐẬP TRỊ AN LÊN VÙNG HẠ LƯU (1988), Thác Mơ (1994), Cần Đơn (2003), Srock Phu Miêng (2005), Hàm Thuận- Đa Mi (2001), công trình hồ chứa Dầu Tiếng (1978) trên sông Sài Gòn. Các công trình này đã đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội rất lớn trong quá trình hình thành và phát triển như cung cấp phần lớn nguồn điện năng cho các tỉnh thành khu vực miền Nam, tăng cường dòng chảy về mùa khô ở vùng hạ lưu đáp ứng nhu cầu đẩy mặn phục vụ cho việc cấp nước dân sinh và công nghiệp, nhu cầu tưới ở vùng hạ lưu.

Bên cạnh đó, các công trình này đã tham gia giảm thiểu ngập lũ cũng như tham gia phòng chống ô nhiễm ở vùng hạ lưu. Công trình thủy điện Trị An được xây dựng từ năm 1988: Nằm trên dòng chính sông Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, với Flv=14.800 km2, MNDBT=62,0m,MNC=50,0m,MNGC=63,9m,Vtổng=2.567x106m, Vpl=635x106m3, Nlm=400MW, Eo= 1. Cho đến nay hồ đã trãi qua 25 năm ngoài nhiệm vụ phát điện, công trình này đã góp phần gia tăng dòng chảy về mùa kiệt ở hạ lưu tạo điều kiện thuận lợi trong việc tưới cho các cánh đồng vùng hạ du lưu vực sông Đồng Nai. Ngoài ra, công trình này cũng đã góp phần làm giảm dòng chảy lũ, thu hẹp đáng kể diện tích ngập ở vùng hạ lưu này trong mùa lũ.

Với thời gian dài như thế và trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu, hiện tượng chặt phá rừng ở thượng nguồn có thể gây ra những trận lũ lớn mà trong lịch sử chưa từng xảy ra và điều này có ảnh hưởng rất lớn đến an toàn đập. Tuy nhiên, việc đánh giá các tác động khi có sự cố vỡ đập xảy ra ảnh hưởng như thế nào đến hạ lưu chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Do đó đề tài: “Ứng dụng mô hình toán số TELEMAC – 2D nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng vỡ đập Trị An lên khu vực hạ lưu” là cần thiết.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI a) Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài là tạo cơ sở khoa học trong việc nghiên cứu mô hình toán số ứng dụng mô phỏng vỡ đập để có thể chủ động phòng, chống lũ, phòng chống thảm họa thiên tai. b) Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu ứng dụng mô hình toán số giải bài toán truyền sóng do vỡ đập.

- Áp dụng bài toán vỡ đập đối với đập Trị An trên sông Đồng Nai. _____________________________________________________________________ -5- ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TOÁN SỐ TELEMAC-2D NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG VỠ ĐẬP TRỊ AN LÊN VÙNG HẠ LƯU - Đánh giá khả năng ngập lụt ở hạ lưu Hồ Trị An gồm: phạm vi vùng ngập, thời gian truyền lũ trên sông, độ sâu và thời gian ngập, vận tốc truyền lũ. - Đề xuất một số các giải pháp công trình, phi công trình để giảm thiểu thiệt hại khi vỡ đập cũng như đề xuất vùng trú ẩn an toàn phục vụ cho công tác di dân khi có sự cố vỡ đập.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU a) Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là diễn biến quá trình lũ ở hạ lưu sau Hồ Trị An và ảnh hưởng của nó về mặt thủy lực tới vùng hạ lưu. b) Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là vùng hạ Đồng Nai – Sài Gòn sau Đập Trị An.

Hạ lưu Đồng Nai – Sài Gòn (ĐN-SG) là vùng đất được tính từ sau thác Trị An trên sông Đồng Nai, từ sau đập Dầu Tiếng trên sông Sài gòn và giới hạn đến hết bờ tả kênh Mỹ Bình – Bo Bo. Diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 452.000 ha, bao gồm phần đất thuộc địa phận các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An và thành phố Hồ Chí Minh, trong lưu vực đã và đang hình thành nhiều trung tâm công nghiệp và khu dân cư tập trung lớn trong đó thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật quan trọng của cả nước; ngoài ra, các tỉnh thành chung quanh thành phố HCM đã phát triển nhanh chóng giúp cho bộ mặt vùng hạ lưu có tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng đầu trong cả nước. _____________________________________________________________________ -6- ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TOÁN SỐ TELEMAC-2D NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG VỠ ĐẬP TRỊ AN LÊN VÙNG HẠ LƯU Hình 1-1: Phạm vi vùng nghiên cứu 1.4 HƯỚNG TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Tiếp cận thực tiễn, hệ thống và toàn diện. - Tiếp cận kế thừa tri thức, kinh nghiệm của các nghiên cứu đã có trước đó một cách chọn lọc, sáng tạo.

- Ứng dụng mô hình toán để mô phỏng tính toán diễn biến ngập lũ khi vỡ đập. Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở tận dụng tối đa sự phát triển của công nghệ thông tin trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển tài nguyên nước trong nước và trên thế giới, cụ thể là các mô hình toán mô phỏng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ với tiêu đề "Nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng vỡ đập Trị An đến khu vực hạ lưu bằng mô hình Telemac 2D" của tác giả Lê Ngọc Anh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thống, thuộc trường Đại học Bách Khoa - ĐHQG TP.HCM, đã được thực hiện vào năm 2014 tại Hồ Chí Minh. Bài nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng mô hình Telemac 2D để phân tích tác động của hiện tượng vỡ đập Trị An đến khu vực hạ lưu, từ đó cung cấp những thông tin quý giá cho việc quản lý và bảo vệ môi trường nước trong khu vực này.

Bài viết này không chỉ mang lại cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của các hiện tượng thiên nhiên đến công trình thủy lợi mà còn giúp các nhà nghiên cứu và kỹ sư trong lĩnh vực xây dựng công trình thủy có thêm kiến thức và phương pháp ứng phó hiệu quả. Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến xây dựng công trình thủy và quản lý nguồn nước, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Những liên kết này sẽ giúp bạn khám phá thêm nhiều khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực xây dựng công trình thủy và quản lý nước, mở rộng hiểu biết và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.