CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ, ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các trường phái lý thuyết về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sự ảnh hưởng của nó đến hiệu quả kinh doanh 1. Trường phái lý thuyết cổ điển Kinh nghiệm chủ yếu của các học giả nổi tiếng về lý luận cổ điển gắn với kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp ở thời kỳ đầu của thế kỷ XX, bắt nguồn từ lý luận quản lý công trình, lý luận quản lý một cách khoa học của Taylor, thuyết quản lý cổ điển Châu Âu của Fayol và lý luận về tổ chức hành chính kiểu quản chế của Max Weber.
Đây là 3 trường phái lớn của lý luận quản lý “cổ điển” hoặc lý luận quản lý truyền thống phương Tây. Đối với những nhà lý luận quản lý cổ điển, để tăng năng suất lao động, việc điều hòa, phối hợp trong nội bộ doanh nghiệp không quan trọng. Họ nhận định một cách đơn giản rằng, sau khi phân công trong nội bộ doanh nghiệp, những mục tiêu nhỏ của các tổ hợp lao động được tổng hợp lại sẽ trở thành mục tiêu lớn của doanh nghiệp. Nếu cần điều phối thì hoàn toàn có thể dựa vào nhân viên quản lý kinh doanh ở tầng lớp trên giải quyết.
Lý luận của họ là công nhân viên phải nghe theo sự chỉ huy của giám đốc để đạt được hiệu quả cao. Do đó, cơ cấu điều phối có hiệu quả duy nhất chỉ có thể là tầng lớp giám đốc. Nhưng kinh nghiệm lại chỉ ra rằng, lý luận đó của họ còn có rất nhiều khiếm khuyết. Thứ nhất, nó rất khó khích lệ tính tích cực của công nhân viên tham dự vào việc quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai, sự hạn chế của lý luận đó rất dễ biểu hiện ở những doanh nghiệp lớn vì ở đó tầng nấc phân công rất phức tạp. Thứ ba, trên thực tế, các giám đốc ngày càng nhận thức được rằng nếu chỉ dựa vào lãnh đạo ở tầng cao của doanh nghiệp thì rất khó thực hiện được sự điều hòa, phối hợp trong tổ hợp lao động cơ sở và nó sẽ không tự động hợp thành mục tiêu lớn của doanh nghiệp. Chính vì những khiếm khuyết rõ ràng như trên nên theo đà phát triển của trường phái quan hệ nhân quần và sự phát triển của công đoàn, một số nhà lý luận về cơ cấu tổ chức, trong đó có nhiều nhà tâm lý học hoặc tâm lý học xã hội đã tìm tòi, 6 nghiên cứu vấn đề này và đề ra một luận thuyết xã hội mới. Đó chính là lý luận về khoa học hành vi của phương Tây.
Lý luận này không đề ra được một kiến nghị rõ ràng để giải quyết vấn đề phân công của doanh nghiệp, nhưng nó đã đề ra vấn đề thực hiện sự hợp tác và điều hòa trong nội bộ doanh nghiệp để tăng năng suất lao động, đạt được hiệu quả cao. Khuyết điểm chủ yếu trong lý luận về khoa học hành vi là ở chỗ họ nhận định một cách đơn giản rằng, tất cả công nhân viên đều có nhu cầu giống nhau và có thể dùng một phương thức giống nhau để khích lệ và thúc đẩy, tăng năng suất lao động góp phần tăng hiệu quả cho doanh nghiệp. Trường phái lý thuyết hiện đại "Trường phái quản lý hiện đại cho rằng, thiết kế tổ chức là do nhiệm vụ sản xuất và tố chất (chất lượng) của công nhân viên của doanh nghiệp quyết định. Về mặt này, trong cuốn “Sự quản lý sáng tạo” do Banx và Stute cùng viết và cuốn “Tổ chức công nghiệp – Lý luận và thực tiễn” của nữ học giả Woodward công bố năm 1965 của Mỹ đều thừa nhận tính hữu hiệu của lý luận này.
Cả ba tác giả đều cho rằng, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng có liên quan đến thành công của doanh nghiệp. Họ đã trình bày những yếu tố chủ yếu cấu thành cơ cấu tổ chức của những doanh nghiệp thành công, nhưng họ chưa đề ra được một đường lối hữu hiệu, hoàn chỉnh để giải quyết vấn đề cơ cấu tổ chức doanh nghiệp một cách có hệ thống.Lorsch là giáo sư ở trường Đại học Harvard cũng đã giới thiệu một cách tường tận những quan điểm khác nhau về vấn đề cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp thuộc lý luận quản lý cổ điển và lý luận quản lý hiện đại của phương Tây, đồng thời phân tích và so sánh các quan điểm ấy để từ đó tiếp thu cái hay của chúng và đề ra một luận thuyết mới về thiết kế cơ cấu tổ chức. Ông cùng với P. Lawrence viết cuốn “Thiết kế cơ cấu tổ chức” (1970), hình thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về thiết kế cơ cấu tổ chức, trong đó trình bày một cách khái quát lý luận về cơ cấu tổ chức trên cơ sở thuyết quyền biến và so sánh nó với các luận thuyết khác về cơ cấu tổ chức.
Lorsch đã vạch rõ cơ cấu tổ chức doanh nghiệp không phải là cái gì bất biến. Ngược lại, nó là một hiện tượng lượng biến phức tạp. Khi nói đến cơ cấu cơ bản của một doanh nghiệp, người ta cần phải xét đến những vấn đề chủ yếu như: sự phân công trong nội bộ tổ chức, việc sắp xếp nhiệm vụ công tác cho các phòng, ban khác nhau để thực hiện sự điều hòa, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được những mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp. 7 Tóm lại, những lý thuyết trên thể hiện những quan điểm khác nhau về cơ cấu tổ chức quản lý trong doanh nghiệp, nhưng tất cả đều nhằm mục tiêu thiết kế, hoàn thiện một cơ cấu tổ chức hợp lý nhất, hiệu quả nhất để khuyến khích tinh thần làm việc của người lao động, góp phần tăng năng suất lao động, đạt được mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp.
Từ đó, HQKD của doanh nghiệp tăng lên. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Trên Thế giới Trong khoa học quản lý, các kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và hiệu quả của tổ chức. Tuy nhiên, mối quan hệ đó như thế nào lại phụ thuộc vào các quan điểm khác nhau khi nghiên cứu hiệu quả của tổ chức.
Đó là quan điểm dựa vào nguồn lực và quan điểm dựa vào tri thức (Wei Zheng, Baiyin Yang, Gary N. Hai quan điểm này không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau. Quan điểm dựa vào nguồn lực thừa nhận rằng khả năng cạnh tranh của công ty có được là nhờ những tài sản hữu hình và vô hình có giá trị, độc đáo và bền vững. Các nguồn lực của một công ty sở hữu bao gồm: kỹ năng quản lý, quy trình tổ chức, những thông tin và kiến thức (Barney, 1991).Daft (2004): Nguồn lực của một công ty bao gồm tất cả các tài sản, năng lực, tổ chức quy trình, đặc điểm của công ty, thông tin, và những yếu tố khác kiểm soát công ty.
Với quan điểm này, hiệu quả của tổ chức có mối quan hệ với các yếu tố nguồn lực của tổ chức như: cơ cấu tổ chức, văn hóa của tổ chức, chiến lược, môi trường, công nghệ của tổ chức. Chẳng hạn: Sharif Zadeh (1993) cho rằng: cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là một trong những yếu tố quan trọng để đạt được sự thành công tổ chức.Daft (2004) và Grant (1996): cơ cấu tổ chức, văn hóa tổ chức và chiến lược của tổ chức là ba nguồn lực quan trọng đã được nghiên cứu rộng rãi trong mối liên hệ với hiệu quả của tổ chức. Cũng theo quan điểm này, kết quả nghiên cứu của Masoud Poor Kiani và Narges Hosini Kahnoog (2013) cho thấy: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và hiệu quả của tổ chức có mối quan hệ với nhau. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng khẳng định một cơ cấu tổ chức linh hoạt có hiệu quả hơn một cơ cấu tổ chức được thực hiện một cách máy móc, dập khuôn.
Quan điểm dựa vào tri thức cho rằng khả năng tạo ra và sử dụng kiến thức của công ty là nguồn lực quan trọng nhất để công ty có được lợi thế cạnh tranh một cách bền vững (Grant, 1996; Kogut và Zander, 1992; Nonaka, 1991; Prahalad và Hamel, 1990). Theo Nonaka (1991): Một trong những nguồn lực chắc chắn nhất để có được 8 lợi thế cạnh tranh lâu dài là kiến thức. Với quan điểm này, văn hóa của tổ chức, cơ cấu tổ chức, chiến lược của tổ chức ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thông qua vai trò trung gian của quản lý tri thức. (Grant, 1996; Wei Zheng, Baiyin Yang, Gary N.
Như vậy, cả hai quan điểm trên đều cho rằng, cơ cấu tổ chức quản lý có ảnh hưởng đến HQKD của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý đến hiệu quả của tổ chức cũng rất nhiều các mô hình khác nhau về thang đo của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý. Tổng hợp mô hình của các nghiên cứu, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý có thể có các thang đo như: qui mô của tổ chức, phạm vi kiểm soát, hệ thống phân cấp, hệ thống điều hành, tính phức tạp của cơ cấu tổ chức, tính chính thức của cơ cấu tổ chức, tính tập trung của cơ cấu tổ chức. Theo Campbell, Bownas, Peterson, và Dunnette (1974), các thang đo này có thể được chia thành 2 nhóm như sau: Thứ nhất: Đặc tính “cấu trúc” (structural) bao gồm các đặc tính vật lý của tổ chức, như: qui mô tổ chức, phạm vi kiểm soát, hệ thống phân cấp, hệ thống điều hành.
Thứ hai: Đặc tính "cơ cấu" (structuring) lại đề cập đến các chính sách và hoạt động diễn ra trong tổ chức đó quy định hoặc hạn chế hành vi của các thành viên tổ chức. Theo Alvani và Danayfard (2004); Masoud Poor Kiani, Narges Hosini Kahnoog (2013); Laleh Baniasadi, Dr.Masoud Poorkiani, Dr.Aflatoon Amiri (2014): Các thang đo được sử dụng để đo lường cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý bao gồm: tính phức tạp, tính chính thức, tính tập trung. Hầu hết trong các nghiên cứu gần đây, các thang đo về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được sử dụng theo nhóm thứ hai. Một vài nghiên cứu trước đây có sử dụng cả các thang đo của nhóm thứ hai và một vài thang đo của nhóm thứ nhất (như qui mô của tổ chức, sự phân cấp).