phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây Aralia armata 1. Thực vật học Cây Aralia armata đƣợc phân loại thực vật học theo cách xác định nhƣ sau: giới Plantae, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Cornales, họ Araliaceae, chi Aralia, loài Aralia armata [1], [2], [3].
Mô tả cây - Đặc điểm thực vật học: + Tên khoa học: Aralia armata (Wall. + Tên Tiếng Việt: Cây đơn châu chấu, cây cuồng, rau gai (Thái Nguyên), độc lực, cẩm giàng (Lạng Sơn), đinh lăng gai, cây đuống, cây răng, lổ cổ, rau gai…[1], [2], [3]. - Đặc điểm sinh thái: Cây nhỏ, cao 1-2m, có thân mảnh, mang nhiều gai cong quắp, mọc lòa xòa. Lá lớn, kép 2-3 lần lông chim, có 9-11 lá chét có phiến lá chét hình trứng dài 4-8 cm, rộng 2-3 cm, nhọn ở đầu, phía cuống hơi tròn, mép có răng cƣa, nhẵn cả hai mặt, nhƣng trên gân có những gai nhỏ, cuống lá có bẹ.
Hoa chùm gồm nhiều tán dài, cuống hoa có gai. Hoa nhỏ, màu lục, vàng nhạt. Quả hạch hình tròn, màu đen. Mùa hoa, quả tháng 7-9 [5], [38], [39].
H nh ảnh cây và hoa của cây Aralia armata 1. Phân bố và sinh thái Loài cây Aralia armata của vùng Himalaya, lan tràn sang Ấn Độ, Myanmar, Nam Trung Quốc, Lào, Việt Nam và Malaysia. Ở Việt Nam, cây mọc hoang tại nhiều nơi trong nƣớc ta chủ yếu tại các tỉnh miền núi nhƣ Lào Cai, Hà Giang, Thái Nguyên, V nh Phúc, Bắc Giang, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Cây mọc rải rác ven rừng, trên các nƣơng rẫy cũ, ở độ cao 200- 1.700m, tại Đà Nẵng hầu hết các xã miền núi và trung du của huyện Hòa Vang đều có phân bố cây này.
Cây ƣa ẩm, ƣa sáng và có thể hơi chịu bóng, sinh trƣởng mạnh trong mùa hè thu, có khả năng tái sinh cây chồi sau khi bị chặt phá [3], [38]. Tính vị và công dụng - Tính vị: Vị cay, hơi đắng, tính ấm. - Công dụng: Vỏ rễ, rễ thƣờng dùng chữa các chứng viêm nhƣ viêm gan cấp, viêm họng, viêm amygdal, viêm bạch cầu, viêm khớp, viêm thận phù thũng, viêm sƣng vú. Cũng đƣợc dùng chữa phong thấp tê bại, dao chém thƣơng tích, sốt rét cơn và rắn cắn.
Lõi thân dùng làm thuốc bổ. Lá non dùng làm rau ăn (do có nhiều gai nên gọi là lá rau gai). Lá dùng đắp mụn nhọn. Nhựa của nõn non dùng chấm làm tan chắp lẹo ở mắt.
Quả sao khô, tán bột thổi vào mũi chống ngạt mũi… [3], [38], [39]. Ngoài ra, vỏ rễ cây Aralia armata có nhiều tác dụng: chống viêm, đặc biệt tác dụng ức chế khá mạnh giai đoạn mạn tính của phản ứng viêm; gây thu teo tuyến ức rõ rệt, kích thích sự chuyển dạng lympho bào trong thí nghiệm nuôi cấy trong ống nghiệm; có tác dụng nội tiết kiểu oestrogen trên động vật thí nghiệm; kháng khuẩn đối với phế bào khuẩn và liên cầu khuẩn tan máu; các saponin triterpen và genin acid oleanolic từ rễ cây là thành phần có hoạt tính chống viêm cấp, viêm mạn và gây thu teo tuyến ức chuột cống trắng đực non. Đồng bào vùng núi thƣờng lấy lá non, chồi non về luộc hay xào ăn nhƣ các loại rau khác. Có thể tƣớc bỏ gai trƣớc khi xào, nhƣng ở những nõn non thì sau khi xào gai cũng trở nên mềm.
Để làm thuốc, thƣờng dùng 10-30g rễ khô sắc nƣớc uống, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. - Một số đơn thuốc của cây Aralia armata:Chữa viêm khớp: Rễ cây 10-30g sắc uống, thƣờng phối hợp với xà cừ và mặt quỷ. Chữa bạch hầu, bí đái: Dùng 8-12g rễ cây sắc nƣớc uống Chữa rắn cắn: Vỏ rễ giã lấy nƣớc uống, bã đắp. Chữa sƣng vú, áp xe vú: lấy 20-30g vỏ rễ, để tƣơi, rửa sạch, giã nhỏ với muối, trộn với ít nƣớc vo gạo đặc, bọc trong một miếng vải sạch, hơ nóng, đắp và băng lại.
Có thể phối hợp với rễ cây trôm (hay cây sảng), lá mua non, lá bồ công anh, lá kim ngân với liều lƣợng bằng nhau. Chữa ho lâu ngày, viêm họng, viêm amidan: vỏ rễ khô 8- 12g, vỏ cây khế chua 20g thái nhỏ, sắc với 400ml nƣớc còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Chữa viêm nhiễm sƣng tấy chƣa thành mủ: lá non rửa sạch 10-20g giã nhỏ với ít muối, sao nóng, đắp lên vết thƣơng. Ngoài ra, vỏ rễ 12g phối hợp với rễ cây ngấy tía 8g, rễ cây han tía 8g.
Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống chữa hen; với rễ cây thóc lép 10g, lá cối xay 8g, sao vàng, sắc uống chữa phù thũng [39]. T nh h nh nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Aralia armata trên thế giới Nhóm chất saponin triterpen có nhiều hoạt tính sinh học lí thú nhƣ làm giảm nồng độ cholesterol, triterpen và các steroid saponin có tác dụng chống ung thƣ; ngoài ta còn có độc tính với côn trùng, giun kí sinh; kháng nấm, virus và vi khuẩn. Nhóm chất này đƣợc các nhà khoa học chứng minh là một trong những thành phần chính của các loài thuộc chi Aralia L. Năm 1988, Hernandez và cộng sự đã phát hiện tác dụng kháng viêm dạ dày từ dịch chiết rễ của loài Aralia elata [12].
Năm 1994, từ vỏ rễ loài Aralia elata đã đƣợc nhóm nghiên cứu của Sakai phân lập và xác định cấu trúc của 3 hợp chất saponin mới dƣới dạng methyl hóa và đƣợc đặt tên là tarasaponin I-III methyl ester (1-3), cùng 4 hợp chất đã biết [22]. Cùng vào năm 1994, từ vỏ rễ loài Aralia elata, Satoh cùng cộng sự đã nghiên cứu và công bố cấu trúc của 5 hợp chất saponin mới, glycoside acid oleanolic, tarasaponin III-VII (4-8) [23]. 7 Cũng từ loài Aralia elata, Yoshikawa cùng đồng nghiệp đã tìm ra cấu trúc của 6 saponin mới elatoside E, G, H, I, J và K (9-14). Các hợp chất này đƣợc chứng minh có khả năng hạ đƣờng huyết mạnh [30].
Ngoài ra, bốn hợp chất mới: aralia-saponin I-IV (15-18) cũng đƣợc phân lập và xác định cấu trúc từ loài Aralia elata [25]. 8 Nhóm của Zhang đã công bố 4 saponin mới (19-22) từ loài Aralia elata. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các hợp chất này có khả năng ngăn tế bào ung thƣ phát triển, các dòng tế bào ung thƣ mà những hợp chất này có khả năng ức chế nhƣ HL-60, A-549 và DU-145 [33]. Hợp chất triterpenoid saponin, oleanolic acid 3-O-β-D- glucopyranosyl(13)-α-L-rhamnopyranosyl(12)-α-L-arabinopyranoside từ loài Aralia elata cũng đƣợc chứng minh có tác dụng kháng viêm mạnh [27].
9 Từ loài Aralia armata, một hợp chất mới đặt tên là armatosid và 10 hợp chất đã biết đƣợc phân lập bởi Fang và cộng sự năm 1995 [11]. Từ rễ loài Aralia decaisneana, nhóm nghiên cứu của Miyase đã phân lập và xác định cấu trúc của 18 hợp chất mới, đƣợc đặt tên là araliasaponin I-XVIII (23-39) [18], [19]. 10 Xiao cùng đồng đội đã phân lập đƣợc 01 hợp chất mới (40) từ loài Aralia dasyphylla var., hợp chất này thể hiện hoạt tính mạnh trong khả năng kháng sự phát triển của các dòng tế bào ung thƣ [29]. Zou cũng đã phát hiện ra 2 hợp chất mới có mặt ở loài Aralia subcapitata: subcapitatoside B (41) và C (42) [35].
Từ rễ loài Aralia spinifolia, Yu và cộng sự đã phân lập và xác định cấu trúc của 2 hợp chất mới đƣợc đặt tên là aralosid H-J (43-44) cùng 4 hợp chất đã biết [31]. 11 Ở loài Aralia elata, Nguyễn Xuân Nhiệm cùng nhóm nghiên cứu đã phân lập đƣợc 2 hợp chất mới thuộc khung saponin triterpen nhóm oleanan là tarasaponin IV (45) và elatosid L (46). Kết quả nghiên cứu cho thấy elatosid L và elatosid D thể hiện hoạt tính kháng viêm với giá trị IC50 lần lƣợt là 4,1 µM và 9,5 µM [20]. Năm 2003, Makoto Tomatsu cùng đồng nghiệp đã tinh chế một loại protein gây độc tế bào mới - aralin, từ chồi của Aralia elata.
Aralin thể hiện hoạt động gây độc tế bào mạnh đối với các loại tế bào ung thƣ khác nhau ở ngƣời; tế bào ung thƣ cổ tử cung (HeLa) tỏ ra nhạy cảm nhất, với giá trị IC50 là 0,08 ng/ml. Những kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng độc tính tế bào của Aralin đƣợc mang lại chủ yếu thông qua việc gây ra apoptosis [26]. Năm 2005, Young Shin Chung cùng cộng sự đã công bố khả năng ngăn ngừa sự phát sinh đục thủy tinh thể trong ống nghiệm và invivo của chiết xuất nƣớc từ loài Aralia elata. Các thí nghiệm invivo đã đƣợc thực hiện với streptozotocin (STZ) gây ra chuột bị tiểu đƣờng.
Các động vật đƣợc thử nghiệm bệnh tiểu đƣờng đã bị đục thủy tinh thể ở tuần thứ 11 sau khi tiêm STZ. Trong khi đó, những động vật đƣợc uống chiết xuất Aralia với liều 300 và 600 mg/kg trong 11 tuần đã giảm sự hình thành đục thủy tinh thể lần lƣợt 15% và 12% [8]. Năm 2009, trên tạp chí Journal of Life Science, Jae Young Cha cùng một số nhà khoa học đã công bố hoạt tính chống oxy hóa từ dịch chiết chồi và lá của loài Aralia elata. Các mẫu thực vật đƣợc chiết bằng nƣớc, methanol, ethanol và đƣợc thử nghiệm trên mô hình thí nghiệm invitro bằng phƣơng pháp thiocyanate và axit thiobarbituric 12 (TBA) DPPH (α, α'-diphenyl-picrylhydrazyl).
Hiệu suất chiết cũng đƣợc đo và đƣợc xác định cao nhất ở dịch chiết nƣớc từ mẫu lá với 3. Hàm lƣợng khoáng chất chính của cả hai mẫu thực vật là Ca, K và Mg. Hoạt tính chống oxy hóa của các mẫu dịch chiết lá mạnh hơn so với các mẫu dịch chiết chồi, trong đó dịch chiết từ dung môi methanol của lá có hoạt tính cao nhất so với tất cả các dịch chiết [7]. Gi Ho Lee và nhóm nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu hoạt động chống oxy hóa của các hợp chất đƣợc phân lập từ chồi của Aralia elata.
Tại phân đoạn n-BuOH thu đƣợc bốn flavonol glycoside: quercetin 3,7-di-O-αα-rhamnopyranoside (1), quercetin 3-O-ββ-D- galactoside-7-O-αα-L-rhamnoside (2), kaempferol 3-O-ββ-glucosyl(1→21→2)-αα- rhamnoside-7-O-αα-rhamnoside (3) and quercetin 3-O-ββ-glucosyl(1→21→2)-αα- rhamnoside-7-O-ββ-rhamnoside (4) trên cơ sở dữ liệu phổ. Kết quả cho thấy các hợp chất trên đều có khả năng chống oxy hóa nhƣng (1) là hợp chất thể hiện tính oxy hóa mạnh nhất [16]. Hai tác giả ngƣời Hàn Quốc là Hu WeiCheng và Wang Myeong Hyeon đã công bố hoạt tính chống oxy hóa từ hạt của loài Aralia elata. Mẫu thực vật đƣợc chiết bằng các dung môi hữu cơ có độ phân cực khác nhau: dichloromethane (CH2Cl2), ethyl acetate (EtOAc), n-butanol (n-BuOH) và methanol 70% (MeOH).
Các thí nghiệm trên in vitro cho thấy, dịch chiết EtOAc có khả năng chống oxy hóa mạnh nhất trong số các dịch chiết [13].