chương 1 này luận án sẽ chủ yếu khảo lược các nghiên cứu từ đầu năm 2000, tức là trong phạm vi khoảng 20 năm trở lại đây, khi IFRS bắt đầu phát triển mạnh. Đối với các nghiên cứu ở nước ngoài tác giả luận án sắp xếp và hệ thống các bài nghiên cứu ở nước ngoài tập trung vào hai nhóm nghiên cứu: nhóm nghiên cứu nhân tố về môi trường kinh doanh, và nhóm nghiên cứu các nhân tố hành vi tác động đến việc áp dụng IFRS. Đối với các nghiên cứu của tác giả trong nước, 1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài: Phần lớn các nghiên cứu ở nước ngoài được thực hiện trong khoảng thời gian sau khi áp dụng IFRS (bao gồm cả tự nguyện lẫn bắt buộc) tại nhiều quốc gia với mục tiêu so sánh sự khác biệt giữa giai đoạn trước khi áp dụng và giai đoạn sau đó, nhằm đánh giá hiệu quả của IFRS (nhóm nghiên cứu về tác động của việc áp dụng IFRS); nhóm nghiên cứu còn lại được thực hiện khi các quốc gia đang trong lộ trình áp dụng IFRS với mục tiêu xác định các nhân tố tác động (nhóm nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRS).1 Nhóm nghiên cứu nhân tố về môi trường kinh doanh Các nghiên cứu về nhân tố môi trường kinh doanh tác động đến việc áp dụng IFRS được trình bày thành hai nhóm: nhóm thực hiện ở phạm vi quốc tế và nhóm ở phạm vi quốc gia. Trong đó, nghiên cứu ở phạm vi quốc tế tức là phân tích số liệu của nhiều quốc gia hoặc của nhiểu doanh nghiệp của các quốc gia, còn nghiên cứu ở phạm vi quốc gia tức là nghiên cứu nhiều doanh nghiệp trong cùng một nước.1 Các nhân tố ảnh hưởng ở phạm vi quốc tế Việc sử dụng một hệ thống chuẩn mực đồng nhất trên thế giới trong lĩnh vực kế toán như IFRS là việc làm rất cần thiết nhưng cũng có những thách thức không nhỏ, đặc biệt là trong bối cảnh của các quốc gia đang trong tiến trình hội nhập.
Những nguyên nhân chính mang tính vĩ mô mà các quốc gia hay gặp phải như về hệ thống pháp luật, thuế, hệ thống tài chính hay yếu tố văn hóa, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu định lượng của Hope và cộng sự (2006) tại 38 nước áp dụng tự nguyện trước năm 2005. Theo nhóm tác giả, cuối năm 2005 có 65 quốc gia yêu cầu áp dụng IFRS (gồm 28 nước ở Châu Âu và các nước ở phần còn lại trên thế giới). Kết quả: các nước có cơ chế bảo hộ kém đối với nhà đầu tư hoặc muốn thu hút vốn nước ngoài sẽ có khuynh hướng áp dụng IFRS nhằm cải thiện môi trường đầu tư.
Khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng IFRS tại các nước đang phát triển, Zeghal và Mhadhbi (2006) kiểm định năm nhân tố đóng vai trò quyết định đến việc áp dụng IFRS bao gồm: phát triển kinh tế (tăng trưởng GDP), trình độ giáo dục (dựa vào tỉ lệ biết chữ theo nghiên cứu của Larsson - 2003), khả năng thu hút FDI, mối liên hệ với văn hóa Anh-Mỹ (các quốc gia nói tiếng Anh hoặc có mối liên hệ chặt chẽ với Anh/Mỹ), và sự hiện hữu của thị trường vốn. Dữ liệu thứ cấp tác giả thu thập chủ yếu từ nguồn World Bank. Trên cơ sở lựa chọn từ website của IASB các quốc gia đang phát triển (tại Châu Âu, châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á) sau đó chia thành 2 nhóm để nghiên cứu bao gồm: 32 nước có áp dụng IFRS và 32 nước không áp dụng tại thời điểm 2003. Kết quả các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS là thị trường vốn, trình độ dân trí, và có ảnh hưởng bởi văn hóa Anh-Mỹ.
10 Tổng thể về các nhân tố tác động đến môi trường kế toán, Choi và Meek (2008) xây dựng khuôn mẫu nhân tố tác động đối với hệ thống kế toán bao gồm 8 nhân tố: nguồn tài chính, hệ thống pháp luật, thuế, quan hệ giữa kinh tế và chính trị, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, và văn hóa. Theo Shima và Yang (2012), khuôn mẫu của Choi và Meek tổng hợp khá đầy đủ các nhân tố chính ảnh hưởng đến hệ thống kế toán, và đều được đưa vào kiểm định trong nhiều mô hình nghiên cứu. Kế thừa từ khuôn mẫu trên, Shima và Yang (2012) sử dụng nguồn dữ liệu liên quan đến 73 nước từ năm 2000-2007, với số lượng quan sát là 527, bao gồm hầu hết quốc gia ở các châu lục nhưng ngoại trừ Liên minh Châu Âu EU (European Union). Theo các tác giả, EU không được đưa vào nghiên cứu này do EU đã bắt buộc áp dụng IFRS tại các quốc gia thành viên, bất chấp yếu tố môi trường kinh doanh.
Các quốc gia được lựa chọn trong nghiên cứu này chia thành 3 nhóm: không cho phép (22 quốc gia, bao gồm cả Việt Nam), cho phép hoặc bắt buộc (14 quốc gia), bắt buộc (37 quốc gia). Kết quả phân tích định lượng cho thấy ngoại trừ 2 nhân tố ảnh hưởng tiêu cực là thuế và lạm phát, các nhân tố còn lại đều ảnh hưởng tích cực đến áp dụng IFRS bao gồm: mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị (gồm cả nhân tố thuộc địa của Vương quốc Anh và nhân tố có quan hệ ngoại thương với các quốc gia áp dụng IFRS), phụ thuộc vào nợ nước ngoài, và hệ thống pháp lý, phát triển kinh tế, trình độ dân trí, và độ e ngại rủi ro (uncertainty avoidance, tức là độ e ngại càng thấp sẽ càng có xu hướng áp dụng IFRS). Trong số này, theo các tác giả thì độ e ngại rủi ro còn liên quan đến yếu tố văn hóa. Kết quả cũng cho thấy các nước thuộc địa cũ của Vương quốc Anh khi áp dụng sẽ tốn kém ít chi phí chuyển đổi và dễ thực thi hơn.
Trong một nghiên cứu về khác biệt văn hóa, Fox và cộng sự (2013) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể là tác giả phỏng vấn bằng câu hỏi bán cấu trúc với 32 người tại Vương quốc Anh, Ireland (tổng cộng 24 người) và Ý (8 người). Trong đó Vương quốc Anh và Ireland là các quốc gia theo trường phái thông luật (common law) còn Ý thuộc trường phái dân luật (code law hoặc cilvil law). Đối tượng phỏng vấn gồm có kế toán viên, kiểm toán viên, nhà lập quy, người sử dụng thông tin, thời gian thực hiện khá dài, từ đầu 2006 đến giữa 2007, và được thực hiện riêng 11 bởi 2 nhóm tác giả (gồm cả người Anh và người Ý). Kết quả: ngoài lợi ích của IFRS, thì khác biệt văn hóa tạo nên sự tốn kém về chi phí trong quá trình áp dụng IFRS tại Ý.
Tác giả cũng nhấn mạnh rằng nghiên cứu này rất hữu ích đối với các công ty chưa áp dụng IFRS. Theo tổng hợp của nhóm tác giả, quốc gia theo hệ thống dân luật (áp dụng luật dân sự, hoặc bộ luật), thì kế toán có xu hướng được tuân thủ rất cao và các quy định kế toán thường được đưa vào luật quốc gia. Ngược lại, hệ thống thông luật thường được xử lý theo từng tình huống và ít có quy định cụ thể. Như vậy có thể thấy ở Vương quốc Anh, do không bị điều chỉnh bởi luật, cho nên quy trình thiết lập CMKT sẽ có độ mở cao hơn ở Ý.
Chẳng hạn, nghiên cứu của Schultz và Lopez (2001) về tác động của văn hóa đối với kế toán, đã kết luận rằng trong cùng một điều kiện cho sẵn, các kế toán viên ở Đức và Pháp ước tính giá trị chi phí bảo hành cao hơn so với các kế toán viên ở Anh, bắt nguồn từ đặc điểm văn hóa, cụ thể là chủ nghĩa bảo thủ tồn tại trong văn hóa các quốc gia thuộc trường phái kế toán Châu Âu lục địa. Zehri và Chouaibi (2013) đã kế thừa phương pháp và giả thuyết của Zeghal và Mhadhbi (2006) để việc áp dụng IFRS tại các nước đang phát triển, họ nhấn mạnh là chỉ nghiên cứu việc áp dụng IFRS tự nguyện. Cụ thể, ngoài việc kiểm định lại các nhân tố như của Zeghal và Mhadhbi (2006), họ đưa thêm 2 nhân tố mới là hệ thống pháp lý và chính trị. Mẫu được sử dụng là 74 quốc gia chia thành 2 nhóm, đã áp dụng và chưa áp dụng, tại thời điểm 2008.
Kết quả: xu hướng áp dụng IFRS tự nguyện thường là do tỉ lệ tăng trưởng kinh tế, hệ thống pháp lý hoàn chỉnh, và trình độ giáo dục. Bên cạnh đó còn có sự hiện hữu của nhân tố cưỡng chế bắt buộc trong việc áp dụng, và các nước có hệ thống pháp lý hoàn chỉnh sẽ càng có khuynh hướng áp dụng. Ở một khía cạnh khác, Alon (2010) đã vận dụng lý thuyết thể chế của Meyer và Rowan (1977) và lý thuyết đẳng cấu thể chế của DiMaggio và Powell (1983) về việc áp dụng IFRS. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, với dữ liệu thứ cấp từ 71 nước, bao gồm 3 nhóm: không áp dụng (39 nước), cho phép áp dụng tự nguyện (13 nước), bắt buộc áp dụng (19 nước).
Theo Alon, về mặt lý thuyết, lý thuyết thể chế (ở phạm vi nghiên cứu quốc tế) hướng đến việc các quốc gia tìm kiếm tính hợp pháp và hành động dựa trên nhu cầu hợp pháp hóa hệ thống của họ. Tác giả kết 12 luận các nước có cơ chế quản trị yếu và chậm phát triển kinh tế sẽ có xu hướng thể chế hóa BCTC thông qua việc áp dụng để đạt được tính chính đáng/hợp pháp (legitimacy). Ngược lại, các nước vốn đã thiết lập được cơ chế quản trị tốt thì nhu cầu áp dụng IFRS có xu hướng thấp hơn. Ngoài ra, các nước có chủ nghĩa dân tộc cao, có xu hướng từ chối áp dụng IFRS và ưu tiên sử dụng chuẩn mực nội địa.2 Các nhân tố ảnh hưởng ở phạm vi quốc gia Một nghiên cứu khác của Gassen và Sellhorn (2006) về việc tự nguyện áp dụng sử dụng dữ liệu của Worldscope và Thompson Financial Datastream về các doanh nghiệp niêm yết ở Đức trong khoảng thời gian 1998-2004, với số lượng quan sát lên đến 1.176 từ nhóm sử dụng chuẩn mực nội địa và 630 quan sát nhóm áp dụng IFRS tự nguyện.
Kết quả: quy mô, mức độ quốc tế hóa, sự phân tán trong thành phần chủ sở hữu chính là các nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRS tự nguyện. Bên cạnh đó, chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp áp dụng IFRS cao hơn nhóm không áp dụng.