phần Mở đầu và Kết luận, báo cáo đƣợc chia thành các chƣơng: Chƣơng I: Tổng quan Chƣơng II: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III: Kết quả và thảo luận 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN 1. Rừng ngập mặn 1. Khái niệm về rừng ngập mặn và phân bố của chúng Theo Phan Nguyên Hồng (1999), rừng ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trƣờng biển và đất liền, tác động của các nhân tố sinh thái ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phân bố của chúng. Cây ngập mặn thƣờng xuất hiện ở thảm thực vật khác nhau song song với bờ biển và bờ sông.
Các cây ngập mặn có biên độ thích nghi rất rộng với khí hậu, đất, nƣớc, độ mặn. Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu. Tuy nhiên một số loài có thể mở rộng khu phân bố lên phía bắc tới Bermuda (32020’ Bắc) và Nhật Bản (31022’ Bắc) nhƣ trang, vẹt dù, đâng, có vàng… (Hình 1.1) Giới hạn phía nam của cây ngập mặn là New Zealand (38003’ Nam) và phía nam Australia (38043’ Nam). Ở những vùng này do khí hậu mùa đông lạnh nên thƣờng chỉ có loài mắm biển sinh trƣởng.1: Bản đồ phân bố rừng ngập mặn trên thế giới (Phan Nguyên Hồng, 1999) Tính toán diện tích rừng ngập mặn một cách chính xác là rất khó khăn vì chúng luông bị biến đổi do tác động của con ngƣời.
Theo IUCN (1983), diện tích rừng ngập mặn trên thế giới là 168.810 km2, còn Spalding và cộng sự (1998) cho rằng diện tích rừng ngập mặn trên thế giới là 198. Về cơ bản, các yếu tố địa chất, khí hậu và sinh học quyết định các loại hình phát triển và đặc điểm rừng ngập mặn. Các yếu tố địa chất hình thành cấu trúc đất và cơ cấu 3 lắng đọng trầm tích của khu vực, các yếu tố khí tƣợng gây ra quá trình thủy văn (thủy triều, sng, dòng ven bờ…). Các yếu tố sinh học xác định điều kiện thích nghi của cây.
Các loài ngập mặn có các hình thái sinh lý, sinh sản cho phép chúng phát triển trong các điều kiện môi trƣờng khắc nghiệt (trong đó có mô trƣờng ngập mặn). Hai nƣớc có diện tích RNM lớn nhất thế giới là Indonesia và Brazil, kích thƣớc cây cũng rất lớn. ở Ecuador có cây cao tới 60m. Ở các nƣớc Đông Nam á nhƣ Malaysia, Phillippine, Thái Lan, Nam Việt Nam, RNM cũng phát triển vì ở đó có những điều kiện thuận lợi nhƣ lƣợng mƣa dồi dào trong năm, nhiệt độ cao và ít biến động, bãi lầy rộng, giàu chất mùn và phù sa, chiều cao của cây đạt 20 - 30m.
Do dân số tăng quá nhanh, đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển, nên hiện nay RNM đang bị khai thác quá mức, hoặc sử dụng vào mục đích kinh tế khác. Vì thế mà diện tích RNM trên thế giới đang bị thu hẹp dần. RNM tự nhiên chỉ còn rất ít ở các nƣớc. Hiện nay ở một số nƣớc đã thành lập các vƣờn quốc gia, khu sinh quyển, khu bảo vệ các loài động, thực vật, nơi nghiên cứu, học tập, du lịch trong vùng RNM.
Nguồn gốc của rừng ngập mặn ở Việt Nam Theo Phan Nguyên Hồng (1999), số loài cây ngập mặn đƣợc biết ở ven biển Nam Bộ phong phú nhất (100 loài), sau đó là đến ven biển Trung Bộ (69 loài) và cuối cùng là ven biển Bắc Bộ (52 loài). Có sự sai khác về số loài là do sự khác nhau về các đặc điểm về địa lý, khí hậu và thủy văn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trung tâm hình thành cây ngập mặn là Indonesia và Malaysia (Chapman, 1976) từ đó phát tán ra các nơi khác. Theo Phan Nguyên Hồng (1991), thì vận chuyển nguồn giống vào Việt Nam chủ yếu là do các dòng chảy đại dƣơng và các dòng ven bờ.
Gió mùa Tây Nam vào mùa hè đƣa dòng chảy mang nguồn giống từ phía Nam lên, nhƣng khi đến vĩ độ 12 thì dòng chảy chuyển hƣớng ra khơi nên một số loài không phát tán đến bờ biển phía Bắc. Chính vì vậy mà nhiều loài phong phú ở phía Nam nhƣ: bần trắng, bần ổi, dà, dƣng, đƣớc, vẹt trụ, vẹt tách, dừa nƣớc, mắm đen, mắm trắng… không xuất hiện ở miền Bắc. Cũng có thể một số ít loài trên trôi nổi trên biển một thời gian vài tháng và vào đƣợc bờ biển vịnh Bắc Bộ, nhƣng vì thời kỳ sinh trƣởng của chúng trùng vào mùa đông nên không tồn tại đƣợc (Hồng, 1991). Nguyễn Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng 4 (1996) đã theo dõi sự sinh trƣởng của một số loài thuộc họ Đƣớc nhƣ đƣớc, đƣng, vẹt trụ, vẹt tách, dà vôi, dà quánh chuyển từ Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh ra trồng thí nghiệm ở Thạch Hà - Hà Tĩnh nhƣng không có kết quả.
Trong thời kỳ nóng, ẩm cây sinh trƣởng nhanh hơn các loài cây cùng họ ở miền Bắc, nhƣng vào mùa đông năm đầu cây héo ngọn sau đó đâm cành và tiếp tục sinh trƣởng, đến mùa đông năm sau cây chết mòn từng phần. Những nhân tố sinh thái cần thiết cho rừng ngập mặn sinh trưởng và phát triển Rừng ngập mặn sinh trƣởng và phát triển tốt ở những nơi có các yếu tố sau đây (Chapman, 1976): 1. Chất đất Các bãi lầy có phù sa chứa nhiều chất dinh dƣỡng do nƣớc triều mang vào là điều kiện tốt nhất cho thực vật ngập mặn sinh trƣởng và phát triển. ở các vùng ven biển nhiều cát, ít phù sa hoặc nơi có nhiều sỏi đá thì một số loài cây ngập mặn vẫn sống đƣợc nhƣng thấp bé, còi cọc.
Ví dụ cây đƣớc ở mũi Cà Mau (tỉnh Cà Mau) có tốc độ tăng trƣởng 0,8 - 1m/năm về chiều cao, và 0,6 - 0,8 cm/năm về đƣờng kính (Hồng và cộng sự, 1999). Trong khi đó tốc độ tăng trƣởng của loài này ở vùng vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) nơi có nhiều cát chỉ đạt 0,4 - 0,6m/năm; cây thấp phân cành nhiều. Địa hình Những vùng ven biển, cửa sông có nhiều đảo che chắn ở ngoài, bờ biển thoai thoải, ít chịu ảnh hƣởng của bão, đều thuận lợi cho cây ngập mặn sinh trƣởng và phân bố rộng. Độ mặn của đất và nước Nhiều loài cây ngập mặn phát triển tốt ở nơi có độ mặn trung bình 1,5 - 2,5%, Tuy nhiên có một số cây thích nghi với vùng nƣớc lợ có độ mặn thấp (0,5 - 1%) dọc các cửa sông nhƣ bần chua, dừa nước, ô rô.
Nhìn chung khi độ mặn cao quá hoặc thấp quá, nhiều loài cây sinh trƣởng không bình thƣờng. Nhiệt độ Các loài cây ngập mặn chỉ sinh trƣởng tốt ở vùng nhiệt độ trung bình năm trên 20oC, ít biến đổi. Ở miền Bắc nƣớc ta có có mùa đông lạnh, do đó RNM ít cây to, số loài ít, tốc độ tăng trƣởng cũng chậm. Còn ở Nam Bộ nhiệt độ trung bình năm 24 - 27oC, ít dao động nên rừng có nhiều cây to, tăng trƣởng nhanh, thành phần loài cũng phong phú hơn.
Với biến động về nhiệt độ mạnh mẽ vào mùa đông trong những năm vừa qua (2008-2011) nhiều diện tích rừng ngập mặn, đặc biệt là diện tích phân bố của 5 loài Bần chua (Sonneratia caseolaris) đã bị suy giảm sức khỏe hoặc chết. Nước triều Những vùng cửa sông, ven biển có nƣớc triều lên xuống hàng ngày cung cấp chất dinh dƣỡng và độ ẩm cho các bãi lầy, rất thích hợp cho sự sinh trƣởng của cây ngập mặn. Ở những bãi ngập sâu hoặc ít khi ngập, cây sinh trƣởng kém hoặc thậm chí cây sẽ chết nếu bị ngập liên tục nhiều ngày nhƣ các cây sú, vẹt, đâng, trang bị quây trong các đầm tôm. Dòng nước ngọt Dòng nƣớc ngọt từ sông cung cấp phù sa và các chất dinh dƣỡng khác cho cây.
Nƣớc ngọt pha loãng độ mặn của nƣớc biển, tạo điều kiện thuận lợi cho cây phát triển. Lượng mưa Cũng nhƣ các loài cây khác, cây ngập mặn cần nƣớc mƣa, đặc biệt là trong thời kỳ ra hoa, kết quả, hình thành trụ mầm. Khi nảy mầm cây con cần nƣớc ngọt làm giảm độ mặn trong đất. Nơi nào mƣa nhiều, cây phát triển mạnh, nơi ít mƣa cây cằn cỗi.
Ví dụ ở Inisơphai (Ôxtrâylia) có lƣợng mƣa 3.000 mm/năm thì cây ngập mặn phát triển rất tốt, trong rừng có tới 92 loài cây. Còn ở Iran do lƣợng mƣa ít, nhiệt độ cao, RNM chỉ có loài cây mắm biển (Avicennia marina). Cây cao nhất là 3 - 5 m. Một số đặc điểm sinh học của các loài cây ngập măn 1.
Hệ rễ trên mặt đất Sống trong môi trƣờng ngập nƣớc triều định kỳ, các cây ngập mặn có một số đặc tính thích nghi: Trƣớc hết là về hệ rễ. Một số cây ngập mặn điển hình nhƣ đƣớc, vẹt, trang, bần, mắm. thƣờng có hệ rễ phát triển. Ngoài những rễ ở dƣới đất, các cây này có thêm những rễ trên mặt đất, đảm nhiệm chức năng hô hấp và giúp cây đứng vững trong điều kiện bùn lầy nhão, không ổn định.2: Sơ đồ các loại rễ Ở cây đƣớc/đâng có rễ chống từ thân, cành trên mặt đất 1.
Rễ chống ở đâng, đƣớc mọc dài ra, phân nhánh và cắm xuống đất nhƣ các răng 2. Rễ hô hấp ở mắm 3. Rễ hình đầu gối ở vẹt nơm úp; mắm, bần có rễ hô hấp mọc ngƣợc từ các rễ nằm ngang dƣới đất, trông nhƣ những mũi chông để lấy không khí; vẹt có rễ hô hấp khuỳnh lên từ các rễ nằm ngang ở gần mặt đất nhƣ hình đầu gối (Hình 1. Các rễ này với rễ dƣới đất giữ cho cây đứng vững ở trên nền bùn mềm, nhiều sóng gió.
Quả và trụ mầm Quả và hạt của các cây ngập mặn cũng rất đặc biệt. Ở đƣớc, vẹt, trang, dà thuộc họ Đƣớc (Rhizophoraceae) thì hạt nảy mầm ngay khi quả còn ở trên cây mẹ thành một bộ phận dài, dính liền với quả gọi là trụ mầm (propagule) có đủ các bộ phận của một cây con tƣơng lai. Ngƣời ta gọi là hiện tƣợng "sinh con trên cây mẹ" (vivipary) (Hình 1. Khi trụ mầm chín, nó tách ra khỏi quả rồi rụng xuống, cắm vào trong bùn mọc thành cây con.
Có loại hạt cũng nảy mầm trên cây mẹ nhƣng trụ Hình 1.3: Quả và trụ mầm của đƣớc mầm chỉ nằm trong quả, sau khi rụng xuống bùn 1. Quả và trụ mầm mới mọc tiếp nhƣ ở cây sú, mắm và dừa nƣớc. Quả và trụ mầm già; 4. Trụ mầm tách khỏi quả rụng xuống đất là hiện tƣợng “nửa sinh con” (cryptovivipary).
Cuối cùng là các cây có quả, hạt thông thƣờng nhƣ giá, ô rô, bần. thì hạt chín rơi xuống đất nảy mầm ngay thành cây con. Các nhóm cây ngập mặn Các cây ngập mặn thích nghi với các chế độ nƣớc mặn theo các cách khác nhau.