Đặt vấn đề Rừng và đất rừng Việt Nam chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích tự nhiên của đất nước, có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người, cũng như đối với hệ sinh thái rừng. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo vệ nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. Rừng là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng và là cơ hội tạo việc làm cho nhiều người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ phục hồi và phát triển rừng, trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, đầu tư thực hiện nhiều chương trình, dự án, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phát triển lâm nghiệp đã được quan tâm tâm chú trọng hơn như đầu tư thực hiện Chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.
Do nhu cầu sử dụng gỗ, các sản phẩm được chế biến từ gỗ của con người ngày càng tăng, và nguồn nguyên liệu từ gỗ để cung cấp cho các nhà máy chế biến cũng không thể thiếu. Từ gỗ, người ta có thể tạo ra nhiều sản phẩm và vật dụng phục vụ cho sinh hoạt của con người nhờ những công nghệ hiện đại mới hiện nay. Chính vì những nhu cầu sử dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ mà các nhà lâm nghiệp vẫn hàng ngày nghiên cứu để tạo ra những giống cây có chu kỳ sinh trưởng ngắn mà năng suất và chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu trên. Họ cử hay còn gọi là họ dẻ, họ dẻ gai, họ sồi (danh pháp khoa học: Fagaceae) là họ thực vật thuộc bộ Fagales.
Tên gọi họ cử lấy theo tên gọi của chi điển hình Fagus (chi cử). Họ này gồm có khoảng 900 loài, cả cây thường xanh lẫn cây rụng lá, cây gỗ và cả cây bụi. Các loài có đặc trưng lá đơn mọc cách, hệ gân lông chim, hoa đơn tính cùng gốc, hoa tự bông đuôi sóc, quả được bọc trong các đấu. Thường có lá kèm sớm rụng.Quả thường được bọc trong một lớp vỏ đấu, có h 2 thể là các vảy hoặc gai, bọc kín hoặc hở, đấu thường có một đến bảy quả (người ta thường gọi là hạt).
Vài loài trong họ Fagaceae cho giá trị kinh tế cao. Nhiều loài cây trong họ này thường được lấy gỗ sử dụng làm đồ gia dụng: sàn nhà, đồ đạc, hộp, thùng rượu nho, nút chai rượu. Các loài Dẻ cho hạt dùng làm thực phẩm cho cả người và vật trong mùa đông. Cây Dẻ đỏ (Lithocarpus ducampii Hickel & A.Camus) thuộc họ Dẻ (Fagaceae).
Gỗ của Dẻ đỏ cứng, chịu được va đập mạnh, có màu hồng thường dùng làm trụ mỏ, thoi dệt, vật liệu xây dựng, đóng đồ gia dụng, tà vẹt, đặc biệt dùng gỗ Dẻ đỏ để đóng sàn và thùng xe rất bền. Dẻ đỏ là cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao nên đang bị khai thác nghiêm trọng. Đây cũng là loài được xác định là ưu tiên cho trồng rừng ở Việt Nam nhất là đối với việc cải tạo rừng nghèo dùng gỗ Dẻ đỏ để đóng sàn và thùng xe rất bền chắc. Nhưng những hiểu biết về ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng của loài còn ít, thông tin về loài chưa đầy đủ và các đề tài nghiên cứu còn hạn chế.
Do đó, xuất phát từ lý do trên tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng của cây Dẻ đỏ tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” là cần thiết nhằm cung cấp các thông tin cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật gây trồng và phục hồi rừng cây bản địa. Mục đích nghiên cứu 1. Về lý luận -Nghiên cứu một số ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng của cây Dẻ đỏ tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Về thực tiễn -Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đối với cây Dẻ đỏ tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú thọ.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Về lý luận - Xác định được một số ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng của cây Dẻ đỏ tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Về thực tiễn - Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đối với cây Dẻ đỏ tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn.
- Làm quen với một số phương pháp đã được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. - Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học, biết vận dụng kiến thức vào thực tế, và có thể tích lũy những kiến thức quý giá phục vụ cho quá trình nghiên cứu trong tương lai. Ý nghĩa thực tiễn - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng.
- Giúp nắm rõ hơn về một số đặc điểm sinh trưởng của loài cây Dẻ đỏ. - Áp dụng các biện pháp đề xuất của đề tài vào việc trồng rừng tại địa bàn nghiên cứu giúp cho rừng trồng Dẻ đỏ phát triển tốt hơn. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Hiện nay với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng.
Quá trình đô thị hóa, ô nhiễm môi trường, chặt phá rừng là những nguyên nhân gây suy giảm diện tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loài động thực vật quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy cần có những hành động cụ thể của cộng đồng đó là các chương trình, dự án để bảo tồn một cách kịp thời. Trong đó, Dẻ đỏ (Lithocarpus ducampii A.Camus) thuộc họ Dẻ (Fagaceae), là loài cây lá rộng bản địa có giá trị kinh tế cao: gỗ cứng, chịu được va đập mạnh, gỗ màu hồng thường được dùng làm thoi dệt, làm trụ mỏ, vật liệu xây dựng, đóng đồ gia dụng, tà vẹt.Bên cạnh đó, Dẻ đỏ có hệ rễ sâu rộng và tán lá dày rậm, khả năng tái sinh hạt và chồi mạnh nên rất có triển vọng trong trồng phục hồi rừng, làm giàu rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên. Dẻ đỏ nằm trong danh sách các loài cây bản địa quan trọng trong trồng phục hồi rừng tại Việt Nam.
Nghiên cứu trong nước và ngoài nước 2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hiện nay, trên thế giới hầu như chưa có nghiên cứu nào về cây Dẻ đỏ mặc dù họ Dẻ đã được các nhà khoa học nghiên cứu tương đối nhiều. Loài Lithocarpus ducampii (Hickel & A. Camus đã được công nhận là tên chính thức của một loài trong họ Fagaceae [14] và có tên đồng nghĩa là Pasania ducampii Hickel & A.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cây Dẻ đỏ ở Việt Nam không nhiều, một số tác giả đã nghiên cứu những vấn đề có thể tóm tắt dưới đây: *Nghiên cứu về cây Dẻ đỏ Ở Việt Nam gỗ Dẻ đỏ có giá trị kinh tế cao, là loài cây được chọn cho trồng rừng phòng hộ, vì vậy trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu cho loài cây này ở các góc độ khác nhau. h 5 - Đặc điểm hình thái: Dẻ đỏ là cây gỗ lớn, đường kính ngang ngực 50 - 60cm, cao tới 30m, thân thẳng, có bạnh vè; vỏ màu nâu xám, nứt dọc sâu; tuỷ tuyến nổi rõ rệt.
Lá đơn, mọc cách, có lá kèm sớm rụng; lá hình ngọn giáo, cuống lá dài 1cm; gân lá nổi rõ ở mặt dưới, mặt trên có lông hình sao màu gỉ sắt. Hoa tự bông đuôi sóc, đơn tính. Hoa đực có 10 - 12 nhị, chỉ nhị dài và mảnh. Hoa cái mọc thành từng cụm, mỗi cụm có 2 - 5 hoa.
Mùa hoa tháng 5 - 7. Đấu quả không có cuống mọc thành cụm 3 chiếc một, mang nhiều vẩy nhọn, quả cao 1,5 - 2cm, đường kính 1 - 1,5cm. Mùa quả tháng 11- 12 (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2000) [1]. - Đặc điểm sinh thái: Dẻ đỏ là cây lá rộng, thường xanh phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, ít phân bố tự nhiên ở các tỉnh phía Nam.
Trong rừng, nó thường mọc với các loài như Lim xanh, Sến, Táu, Kháo, Trám, Ràng ràng và một số cây họ Dẻ khác như Dẻ gai, Dẻ cau, Dẻ bộp. Trong vùng phân bố cây Dẻ đỏ có thể sống và sinh trưởng ở nhiều loại đất, thích hợp nhất là đất Feralit vàng đỏ hoặc đỏ vàng phát triển trên đá macma axít hoặc trên phiến thạch sét, phấn sa. [10] Thích hợp với khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa, lượng mưa bình quân 1.500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 22 - 27oC. Thường thấy ở những nơi có độ cao tương đối từ 200 - 500 m so với mực nước biển, độ dốc 10 - 25o.
Theo Hà Thị Mừng (2009) [8] Dẻ đỏ phân bố nhiều ở một số tỉnh phía Bắc như Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh và một số vùng phía Nam như Kon Hà Nừng (Gia Lai), Cát Tiên (Đồng Nai). Tác giả cũng khẳng định Dẻ đỏ thường mọc ở những nơi có độ cao 200 - 500m, độ dốc 10 - 25o, trên đất feralit nâu vàng hoặc nâu sẫm phát triển trên đá sa phiến thạch. Nghiên cứu khác cũng cho thấy Dẻ đỏ phân bố nơi có lượng mưa từ 1.749 mm/năm, nhiệt độ trung bình năm 21,2 - 23,40C. Dẻ đỏ không chiếm ưu thế trong lâm phần.
Các quần thể có Dẻ đỏ phân bố có tính cạnh tranh cao, tính đa dạng sinh học cao và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. h 6 - Nhân giống: Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng năm 2015 của Trung tâm Khoa học vùng Trung tâm Bắc Bộ(2015) [11], một số thông tin về sinh lý hạt giống Dẻ đỏ như sau: - Khối lượng 1000 hạt là 2617g. - Số hạt trung bình/1kg là 382 hạt.