CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ GRAPHITE Than chì hay graphite (được đặt tên bởi Abraham Gottlob Werner năm 1789) là một dạng thù hình của carbon. Than chì có kiến trúc lớp, trong đó mỗi nguyên tử carbon ở trạng thái lai hóa sp2 liên kết cộng hóa trị với 3 nguyên tử carbon bao quanh cùng năm trong một lớp tạo thành vòng 6 cạnh; những vòng này liên kết với nhau thành một lớp vô tận. Các lớp này liên kết với nhau bằng liên kết Van der Waals do đó các lớp than chì rất dễ trượt đối với nhau [15], [16].
Đó chính là nguyên nhân của đặc điểm dễ tách lớp, có tính bôi trơn khô mà ta thấy ở lõi bút chì, chổi than. Ô mạng than chì và cấu trúc graphite Tùy theo cách sắp xếp của các lớp đối với nhau, than chì có hai dạng tinh thể: Lục phương và mặt thoi. Trong tinh thể than chì lục phương, mỗi nguyên tử carbon của lớp trên không nằm đúng ở trên nguyên tử carbon của lớp dưới mà nằm đúng ở trên nguyên tử carbon lớp dưới nữa, nghĩa là lớp thứ nhất trùng với lớp thứ 3, thứ 5. Và lớp thứ 2 trùng với lớp thứ 4, lớp thứ 6,… Trong tinh thể than chì mặt thoi nguyên tử carbon của lớp thứ nhất nằm đúng trên nguyên tử carbon của lớp thứ 4, lớp thứ 7,… e 5 Kích thước của một đơn vị tinh thể là a = b = 245,6 pm, c = 669,4 pm.
Độ dài liên kết carbon-carbon là 141,8 pm, và khoảng cách giữa các lớp là c = 334,7 pm. GIỚI THIỆU VỀ GRAPHENE 1. Khái niệm graphene Graphene có nguồn gốc từ graphite (than chì), nó được tách ra từ graphite. Graphene là một mạng tinh thể dạng tổ ong có kích thước nguyên tử tạo thành từ các nguyên tử carbon 6 cạnh.
Dưới kính hiển vi điện tử, graphene có hình dáng của một màng lưới có bề dày bằng bề dày của một nguyên tử carbon, nếu xếp chồng lên nhau phải cần tới 200000 lớp mới bằng độ dày một sợi tóc. Có thể xem graphene như thành phần cơ bản tạo nên các cấu trúc khác nhau của carbon như fullerene, carbon nanotube, graphite. Graphene được hình dung như là một ống nano dàn mỏng, do cùng một nguyên liệu chính là các phân tử carbon. Về cơ bản graphene có cấu trúc 2D.
Tính chất của graphene * Tính chất nhiệt và điện Độ dẫn nhiệt của vật liệu graphene được đo ở nhiệt độ phòng ~5000W/mK cao hơn các dạng cấu trúc khác của carbon là ống nano carbon, than chì và kim cương. Graphene dẫn nhiệt theo các hướng là như nhau. Khi mà các thiết bị điện tử ngày càng được thu nhỏ và mật độ mạch tích hợp ngày càng tăng thì yêu cầu tản nhiệt cho các linh kiện càng quan trọng. Ở dạng tinh khiết, graphene dẫn điện nhanh hơn bất cứ chất nào khác ở nhiệt độ bình thường.
Graphene có thể truyền tải điện năng tốt hơn đồng gấp 1 triệu lần. Hơn nữa, các electron đi qua graphene hầu như không gặp điện trở nên ít sinh nhiệt. Với khả năng dẫn nhiệt và dẫn điện tốt, graphene hứa hẹn sẽ là một vật liệu tiềm năng cho các ứng dụng tương lai. * Tính chất cơ e 6 Để đo được độ bền của vật liệu graphene các nhà khoa học đã sử dụng một kỹ thuật đó là kính hiển vi lực nguyên tử.
Một đầu dò có đường kính 2nm bằng kim cương làm lõm một tấm graphene đơn lớp. Kết quả đo và tính toán cho thấy graphene là vật liệu rất cứng (cứng hơn kim cương và cứng hơn 300 lần so với thép). Trong khi đó tỉ trọng của graphene tương đối nhỏ 0,77mg/m2. * Tính chất quang Graphene hầu như trong suốt, nó hấp thụ chỉ 2,3% cường độ ánh sáng, độc lập với bước sóng trong vùng quang học.
Như vậy, miếng graphene lơ lửng không có màu sắc. * Tính chất hóa học Tương tự như bề mặt graphite, graphene có thể hấp thụ và giải hấp thụ các nguyên tử và phân tử khác nhau (ví dụ NO2, NH3). Các chất hấp thụ liên kết yếu thể hiện vai trò như donor và acceptor và làm thay đổi nồng độ các hạt tải vì thế graphene có tính dẫn điện cao. Điều này có thể được khai thác cho các ứng dụng làm cảm biến hóa chất [6].
Phân loại graphene * Graphene đơn lớp Graphene đơn lớp là một dạng tinh thể hai chiều của carbon, có độ lưu động của electron cao và có các tính chất hóa lý nổi bật nhất khiến cho nó là vật liệu hứa hẹn đối với lĩnh vực điện tử và quang lượng tử cỡ nano. Nhưng chúng có nhược điểm, đó là không có vùng cấm năng lượng, làm hạn chế việc sử dụng graphene trong lĩnh vực điện tử. Vì không có vùng cấm năng lượng nên màng đơn lớp graphene không được xem là chất bán dẫn. Biến tính bề mặt được cho là có thể mở rộng vùng cấm năng lượng và thay đổi mật độ electron của graphene.
Cấu trúc vùng năng lượng của graphene * Graphene lớp kép Gồm 2 lá graphene đơn xếp chồng lên nhau có chiều dày bằng kích thước 2 lớp nguyên tử. Khi xếp 2 lớp graphene chồng lên nhau sẽ xảy ra hai trường hợp: - Đối xứng: Các nguyên tử carbon ở hai màng đối xứng nhau qua mặt phẳng phân cách giữa hai lớp. - Không đối xứng: Các nguyên tử carbon ở hai màng không đối xứng nhau qua mặt phẳng phân cách giữa hai lớp. Lớp kép này là chất bán dẫn vùng cấm thẳng, khác với đơn lớp, lớp kép có vùng cấm năng lượng.
Cấu trúc vùng năng lượng của lớp kép graphene có cấu trúc (a) đối xứng và (b) không đối xứng e 8 1. PHÂN TỬ DIAZONIUM Các muối diazonium là các hợp chất hữu cơ trong đó có các tương tác ion giữa nhóm azo (-N2+) và anion X- (Cl-, F-, CH3COO-,…). Công thức hóa học chung của nó là RN2+X-, và trong trường hợp này, chuỗi R có thể là nhóm aliphatic hoặc nhóm aryl, đó là một vòng thơm [25], [26]. Cấu trúc của ion arenodiazonium được thể hiện trong Hình 1.
Các quả cầu màu xanh tương ứng với nhóm azo, trong khi các quả cầu đen và trắng tạo nên vòng thơm của nhóm phenyl. Nhóm azo rất không ổn định bởi vì nguyên tử nitơ có điện tích dương (-N+≡N). Cấu trúc phân tử diazonium Đặc điểm quan trọng của phân tử diazonium là khả năng hình thành các gốc aryl tự do sau khi giải phóng các nguyên tử nitơ trong cấu trúc phân tử thông qua phản ứng hóa học/điện hóa học. Các gốc tự do có tính hoạt hóa rất mạnh và do đó dễ dàng tham gia phản ứng tạo thành các liên kết cộng hóa trị với các vật liệu khác như kim loại, carbon.
Qua đó, hình thành nên các loại vật liệu mới có độ bền cơ học/hóa học rất cao [27]. Chính đặc điểm này mà diazonium luôn luôn là ứng viên đầu tiên được lựa chọn để biến tính bề mặt các vật liệu nhằm chế tạo ra các loại vật liệu mới. Các nhóm chức trong phân tử diazonium hoàn toàn có thể thay đổi và do đó chúng ta hoàn toàn kiểm soát được tính chất của vật liệu mới hoàn toàn theo mục đích sử dụng. e 9 Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chọn ba phân tử diazonium lần lượt là: phân tử 3,4,5-TMD, phân tử 4-NBD và phân tử 4-ABD.
Các phân tử này có chứa các nhóm chức khác nhau và do đó chúng tôi hy vọng rằng chúng sẽ ảnh hưởng khác nhau lên hệ vật liệu graphene và graphite. Một lý do quan trọng nữa cho việc lựa chọn các phân tử này làm đối tượng nghiên cứu đó là khả năng hình thành màng đơn lớp hoặc đa lớp phân tử trên bề mặt vật liệu nền do đặc điểm cấu tạo của chúng, nghĩa là vị trí các nhóm chức trên phân tử được bố trí để hoặc ngăn cản hoặc tăng cường việc hình thành màng đa lớp trong quá trình cấy ghép điện hóa [28]. Cấu trúc phân tử 3,4,5-TMD, phân tử 4-NBD và phân tử 4-ABD 1. SỰ SẮP XẾP CỦA CÁC PHÂN TỬ HỮU CƠ TRÊN BỀ MẶT VẬT RẮN Quá trình tự sắp xếp các nguyên tử/phân tử là sự liên kết tự nhiên ở trạng thái cân bằng của các phân tử/nguyên tử trong những điều kiện nhất định tạo thành hệ phân tử/nguyên tử mới có cấu trúc xác định và độ bền cao hơn.
Quá trình tự sắp xếp các phân tử hữu cơ thường dẫn đến sự hình thành của hệ thống siêu phân tử có nhiều đặc tính khác biệt so với các phân tử riêng lẻ ban đầu. Quá trình tự sắp xếp của các phân tử hữu cơ trên bề mặt kim loại tại bề mặt phân cách rắn – lỏng là sự cân bằng của nhiều loại tương tác và liên kết khác nhau: e 10 - Tương tác tĩnh điện: Xảy ra giữa các hợp phần mang điện tích trái dấu, lực tương tác tương đối mạnh (so với các loại tương tác khác tương tác Van der Waals, tương tác π-π,…) và không có tính định hướng. - Tương tác Van der Waals: Tương tác vật lý giữa các phân tử lưỡng cực. - Tương tác π-π: Là sự kết hợp giữa tương tác Van der Waals và tương tác tĩnh điện.
Đối với liên kết π-π giữa các vòng thơm, khi các vòng đối diện với nhau tạo nên sự giao thoa giữa các điện tử π sẽ làm tăng năng lượng liên kết của các phân tử. - Liên kết hiđro: Hình thành giữa nguyên tử H linh động giàu mật độ điện tích dương với nguyên tử mang điện tích âm hoặc giàu mật độ điện tích âm. Năng lượng của liên kết hiđro thường lớn hơn liên kết Van der Waals. - Liên kết cộng hóa trị: Sự dùng chung một hay nhiều cặp electron của các nguyên tử.
- Liên kết phối trí: Liên kết được tạo nên giữa hai nguyên tử nhờ một cặp electron của một trong hai nguyên tử này. THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ - Tế bào điện hóa; - Điện cực so sánh Ag/AgCl; - HOPG: Kích thước 12x12x1 (mm); - Tấm Graphene: Kích thước 8 x8 x1( mm ) ; - Bình định mức dung tích 20 ml, 100 ml, 250 ml và 1000 ml; - Pipet 5 ml, 10 ml; - Cốc thủy tinh 50 ml, 100 ml; - Cân phân tích; - Máy rửa sóng siêu âm (Elma); - Máy biến thế một chiều; e 12 - Một số dụng cụ thuỷ tinh và các dụng cụ phụ trợ khác. QUY TRÌNH CHẾ TẠO HỆ VẬT LIỆU MÀNG 4-NBD/HOPG, HỆ VẬT LIỆU MÀNG 4-ABD/HOPG, HỆ VẬT LIỆU MÀNG 3,4,5-TMD BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY GHÉP ĐIỆN HÓA 2.