Đặt vấn đề Chè hoa vàng hay còn gọi là Kim hoa trà (danh pháp hai phần: Camellia chrysantha) là một loài thực vật hạt kín trong họ Theaceae. Nó được tìm thấy ở Trung Quốc (tây nam tỉnh Quảng Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) [12]. Cây chè hoa vàng trước đây chủ yếu dùng làm cảnh vì sắc màu vàng đượm, lung linh của chè hoa vàng khiến người chơi cảnh bị mê hoặc. Nhưng hiện nay, qua các quá trình nghiên cứu và sử dụng, ta đã biết chè hoa vàng không những chỉ để chơi cảnh mà còn dùng làm trà uống hàng ngày rất ngon và bổ dưỡng.
Ngày nay với khoa học hiện đại, chè hoa vàng trở nên quý giá hơn bao giờ hết bởi công dụng và những lợi ích của chè hoa vàng mang lại. Những hợp chất trong chè hoa vàng nhiều và quý. Người ta tìm thấy chè chứa hơn 400 hoạt chất và trong đó quý giá là các saponin Tea polyphenon và các nguyên tố như Selenium (Se), Germannium (Ge), Kalium (K) Kẽm (Zn), Molypden (Mo), Vanadium (V), Mangan (Mn) và các vitamin B1, B2, C. Chè hoa vàng được giới y học nghiên cứu rất nhiều và đã được ứng dụng trên nhiều quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Việt Nam.
Chè hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về chè hoa vàng không đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau (Trần Ninh, 2002) [10]. Chè hoa vàng thường là cây gỗ nhỏ, cao 3-5m, là cây chịu bóng, thường mọc dưới tán rừng tự nhiên. Do đó chè hoa vàng có khả năng trồng làm cây tầng dưới cho các đai rừng phòng hộ nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn.
Cây có nhiều lá, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và 2 cải tạo đất tốt. Chè hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa từ trung bình đến to, có đường kính 4-8cm, hoa đẹp, nhiều loài nở hoa vào dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây chè hoa vàng dã sinh về trồng làm cảnh ở sân vườn. Hiện chúng chỉ được quan tâm đến giá trị cảnh quan mà các giá trị về sinh học, dược học chưa được quan tâm và khai thác (Ngô Quang Đê, 1998, 2001) [3][4]. Việt Nam đang đầu tư phát triển cây chè hoa vàng, vì không những tạo cảnh quan môi trường mà còn là cây dược liệu quý, giá trị kinh tế cao, phù hợp xuất khẩu.
cây chè hoa vàng sinh trưởng tại một số vùng của Việt Nam rất tốt. Công dụng của cây chè hoa vàng: - Trong lá chè có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt). - Nước sắc lá chè có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và tác dụng được duy trì trong thời gian tương đối dài. - Nước sắc lá chè có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu.
- Phòng ngừa u bướu và ức chế sự phát triển của các khối u khác - Hưng phấn thần kinh. - Lợi tiểu mạnh. - Hạ đường huyết. - Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu.
- Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn. - Ngoài ra, lá chè còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp. 3 - Sử dụng chè cho thấy dùng trà mang lại hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa chứng sạm da - một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư da. Tuy nhiên, ngành sản xuất và chế biến chè, nổi lên vấn đề quan trọng nhất đó là chất lượng và thương hiệu của sản phẩm.
Sản phẩm chè của ta chưa thực sự đảm bảo “độ sạch, an toàn” theo tiêu chuẩn, chất lượng chè chưa cao, chưa ổn định, kém bền vững. Mặt khác, thói quen sử dụng nhiều phân hóa học, hóa chất trong quá trình sản xuất chè làm cho chất lượng sản phẩm chè của ta có nguy cơ ngày càng suy giảm, mất dần thương hiệu, làm ô nhiễm và suy thoái dần môi trường đất, nguồn nước. sự nhận thức và việc áp dụng các quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến như sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật có nguồn gốc hữu cơ, an toàn, sử dụng nước tưới sạch, hoặc một số loại chế phẩm sinh học có thành phần hữu cơ hoặc nhiều chủng vi sinh vật sẽ hoạt động khi được bón vào đất vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất. để sản xuất ra các sản phẩm chè an toàn mang tính bền vững của một bộ phận không nhỏ người sản xuất còn hạn chế, nhất là đối với người dân làm chè ở vùng miền núi còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân chí thấp, sự hiểu biết và sử dụng của nông dân về phân bón lại rất khác nhau.
Để từng bước thay đổi quan niệm trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng bằng con đường hữu cơ vi sinh, giảm dần và tiến tới thoát ly sự phụ thuộc vào phân hóa học để hướng tới một nền nông nghiệp bền vững.Việc bón phân hữu cơ vi sinh còn làm tăng hiệu quả của phân vô cơ, dinh dưỡng tạm thời được giữ lại để cung cấp dần dần cho cây trồng, hạn chế rửa trôi. Từ đây mà làm giảm số lượng sử dụng phân vô cơ tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả. Tuy nhiên hiện nay trên thị trường có nhiều loại chế phẩm sinh học khác nhau, bởi vậy câu hỏi nông dân đặt ra là phải chọn loại chế phẩm sinh học nào để mua. Do đó, để tìm ra loại chế phẩm sinh học thích hợp cho chè nói chung và chè hoa vàng nó riêng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề 4 tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm sinh học đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây chè hoa vàng giai đoạn cây con tại Thái Nguyên” nhằm bước đầu xác định được loại chế phẩm sinh học phù hợp nhất cho cây chè hoa vàng sinh trưởng và phát triển.
Mục đích nghiên cứu Xác định sự ảnh hưởng của một số loại chế phẩm đến các chỉ tiêu nghiên cứu. Từ đó kết luận được sự ảnh hưởng của các loại chế phẩm này đến sự sinh trưởng và phát triển của cây chè hoa vàng giai đoạn cây con tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Ảnh hưởng của các loại chế phẩm sinh học đến sinh trưởng và phát triển của chè hoa vàng giai đoạn cây con tại Thái Nguyên. - Tìm ra loại chế phẩm sinh học phù hợp với chè hoa vàng giai đoạn cây con tại Thái Nguyên.
- Tìm hiểu lợi ích của việc sử dụng chế phẩm sinh học đến việc phát triển nền nông nghiệp sạch ở Việt Nam. 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Chế phẩm sinh học có một vai trò ngày càng gia tăng trong dinh dưỡng cây trồng đã được nông dân áp dụng từ nhiều năm nay ở khắc nơi trên thế giới, mặc dù thông thin về lĩnh vực này trên các tài liệu khoa học còn hạn chế. Chỉ tới thời gian gần đây, các nhà khoa học mới chú tâm tới và rất nhiều chuyên gia đã công nhận tầm quan trọng của chế phẩm sinh học đến nông nghiệp trên toàn thế giới.
Sử dụng các loại chế phẩm sinh học trong nông nghiệp là sử dụng các loại vi sinh vật sống nhằm tăng sức khỏe và sự sinh trưởng cho cây trồng và vật nuôi. Các loại vi sinh vật trong chế phẩm sinh học còn còn có tác dụng gây bệnh cho các vi khuẩn, sâu bệnh có trong cây trồng, vật nuôi, cải tạo môi trường sống, tăng sức khỏe, tăng khả năng hấp thụ thức ăn cho cây trồng, vật nuôi. Việc thử các chế phẩm sinh học thay thế phân khoáng và các loại thuốc có nguồn gốc vô cơ cho cây chè hoa vàng là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ cho chè hoa vàng xong phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn cáo giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hiệu quả. Sử dụng chế phẩm sinh học cho cho chè hoa vàng gồm nhiều bước, trong nhiều giai đoạn phát triển của cây.
Trong đó sử dụng chế phẩm sinh học cho cây chè hoa vàng ở giai đoạn cây con là một trong những bước vô cùng quan trọng. Khả năng sinh trưởng và phát triển của cây con có ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sau của cây. Cây chè hoa vàng ngày nay được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp nhân giống vô tính, cụ thể là giâm cành. Cành sau khi giâm cần có được sự 6 chăm sóc tốt nhằm tạo điều kiện tốt nhất để cành giâm ra rễ và phát triển.
Trong thời gian này việc tưới nước và bón phân thường xuyên cho cành giâm là điều cần thiết. Nhằm tạo điêu kiệm tốt nhất cho cây quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con. Thử nghiệm và xác định để biết được loại chế phẩm sinh học phù hợp nhất cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con là vô cùng quan trọng. Quyết định trực tiếp đến các giai đoạn phát triển sau của cây.
Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây chè hoa vàng 2. Nguồn gốc của cây chè hoa vàng Nguồn gốc của cây chè là , một vấn đề phức tạp, cho đến nay có niều quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, dựa trên cơ sở về lịch sử khảo cổ học và thực vật học. Một số quan điểm được nhiều người công nhận là: - Cây chè ở Vân Nam - Trung Quốc: Theo Daraselia (1989) từ những nghiên cứu về cây chè, các giải thích về sự phân bố cây chè mẹ ở Trung Quốc của các nhà khoa học ở Trung Quốc, dựa theo học thuyết “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop ông kết luận rằng: Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc, nó phân bố ở phía đông, phía nam, phía đông nam men theo cao nguyên Tây Tạng. - Cây chè có nguồn gốc ở vùng Assam (Ấn Độ): Năm 1823 R.
Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Assam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản của cây chè là ở vùng Assam chứ không phải là ở Vân Nam - Trung Quốc.