CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về công nghệ bôi trơn tối thiểu 1. Vai trò của dung dịch trơn nguội trong gia công cắt gọt Trong ngành công nghiệp cơ khí ngày nay, nhu cầu ngày càng tăng với chi phí thấp, năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt.
Năng suất cao vốn gắn liền với tốc độ cắt cao, lượng chạy dao và chiều sâu cắt lớn, dẫn đến một lượng lớn nhiệt sinh ra tại vùng gia công. Xét về mặt biểu diễn, dung dịch trơn nguội hiệu quả làm tăng tuổi thọ dụng cụ, cho phép kiểm soát tốt kích thước và chất lượng bề mặt tốt. Chất lượng bề mặt tốt không chỉ đạt tính thẩm mỹ mong muốn của một sản phẩm mà còn để cải thiện các tính chất ma sát, độ bền mỏi, và khả năng chống ăn mòn. Do đó, chất lượng bề mặt là cực kỳ quan trọng trong việc đánh giá năng suất của các công cụ máy móc và các bộ phận cơ khí.
Bên cạnh đó, nó có thể được sử dụng như một chỉ số chất lượng quan trọng cho bề mặt gia công. Việc lựa chọn, áp dụng và kiểm soát đúng đắn dung dịch trơn sẽ dẫn đến việc trở thành một phần không thể tách rời của một xưởng cơ khí có hiệu quả về chi phí, được tổ chức tốt và an toàn. Do đó, Dung dịch trơn nguội là điều cần thiết để giải quyết các vấn đề nhằm đạt năng suất cao. Tuy nhiên bên cạnh những mặt lợi mà dung dịch trơn nguội đem lại có những bất lợi nhất định như chi phí xử lý việc thải bỏ dung dịch trơn nguội, chi phí cho việc dự trữ và thải bỏ dung dịch trơn nguội có thể cao gấp hai lần chi phí gia công [1], ngoài ra sức khỏe của người sử dụng bị ảnh hưởng rất nhiều đặc biệt là các bệnh về da và hô hấp.
Trong khí đó nền công nghiệp luôn hướng đến nền “sản xuất bền vững” – Tạo ra các sản phẩm được sản xuất sử dụng quy trình giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, bảo tồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên, an toàn cho nhân viên, người tiêu dùng và cộng đồng [2]. HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN Hình 1. Đặc tính của sản xuất bền vững [3] Do đó có thể thấy rằng việc cắt giảm sử dụng dung dịch trơn nguội đang là một xu thế tất yếu. Ngày nay, đã có nhiều phương pháp bôi trơn được nghiên cứu và ứng dụng vào gia công đảm bảo vấn đề môi trường và kinh kế kỹ thuật, một trong số đó phương pháp bôi trơn tối thiểu đã thể hiện những ưu điểm đáng kể so với các phương pháp khác.
HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN Giảm ma sát & lực cắt Giảm nhiệt cắt Giảm lẹo dao và mòn dao Dung dịch Cải thiện chất lượng bề mặt Bôi trơn trơn nguội Nâng cao vận tốc cắt và lượng chạy dao Giảm hao tốn năng lượng Giải nhiệt từ vùng gia 1. Tăng tuổi thọ công dụng cụ Giảm nhiệt cắt Làm mát 2. Nâng cao năng Giảm mòn dao suất Nâng cao độ chính xác 3. Cải thiện chất kích thước lượng chi tiết Đưa phoi ra khỏi vùng gia công Thoát phoi Giảm mòn dao Làm sạch phôi Hình 1.
Vai trò của dung dịch trơn nguội [4] 1. Công nghệ bôi trơn tốt thiểu Bôi trơn tối thiểu (Minimum Quantity Lubrication - MQL) hay gia công gần khô (Near Dry Machining – NDM) là kỹ thuật chỉ sử dụng một lượng rất nhỏ dung dịch trơn nguội trong suốt quá trình gia công. Lưu lượng chất lỏng trong hệ thống MQL thông thường là 50÷500 ml / h, được ước tính thấp hơn 10.000 lần so với việc tưới tràn thông thường [3]. Trong kỹ thuật MQL / NDM, một lượng nhỏ chất bôi trơn / làm mát được trộn lẫn với không khí để tạo thành dạng sương, được phun ở áp suất cao vào vùng gia công với sự trợ giúp của vòi phun.
Hệ thống này bao gồm một bộ tạo sương, bể chứa dung dịch trơn nguội, vòi xả, vv. Bộ tạo sương hoạt động như một ống phun trong đó HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN khí với áp suất cao được sử dụng để tán nhỏ chất bôi trơn thành dạng hạt có kích thước micron. Khi hỗn hợp khí và các hạt bôi trơn được phun trong vùng cắt có dạng sương mù, nó hoạt động như chất làm mát cũng như chất bôi trơn và thâm nhập sâu vào vùng tiếp xúc giữa dụng cụ cắt và phôi [5]. Theo phương thức dung dịch trơn nguội chuyển đến vùng cắt gọt, kỹ thuật MQL có thể được phân loại thành hai loại, cụ thể là hệ thống cấp MQL bên ngoài và hệ thống cung cấp MQL bên trong.
Hệ thống cấp MQL bên ngoài và bên trong [5] Hệ thống cấp MQL bên ngoài: Hỗn hợp của luồng khí nén và dầu được cấp đến vùng cắt gọt thông qua một vòi phun bên ngoài giống với vòi phun tưới tràn trong máy. Có hai phương pháp khả thi cho hệ thống cấp MQL bên ngoài đó là: - Hệ thống cấp MQL bên ngoài với vòi phun áp lực cao: Luồng khí nén và dung dịch bôi trơn được cấp cho vòi phun một cách riêng biệt, sự hòa trỗn hỗn hợp xảy ra ngay sau miệng vòi. - Hệ thống cấp MQL bên ngoài với vòi phun thông thường: Hỗn hợp khí và chất bôi trơn được chuẩn bị trong một buồng trộn bên ngoài và sau đó được đưa đến vòi phun. Hệ thống cấp MQL bên trong: HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN Hỗn hợp khí và dung dịch trơn nguội được trộn bên trong một ống dẫn và đưa vào vùng cắt gọt thông qua dụng cụ cắt.
Hệ thống này có hai dạng đó là: - Dạng một kênh dẫn: Dầu và luồng khí nén được trộn bên trong dụng cụ cắt trước khi được đưa vào vùng gia công. - Dạng hai kênh dẫn: Dầu và khí nén được cung cấp trong hai đường ống lồng vào nhau và chỉ được trộn trước đồ gá dụng cụ cắt. Hệ thống cung cấp MQL bên ngoài [6] HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN Hình 1. Hệ thống cung cấp MQL bên trong [7] Ngoài ra, từ góc nhìn gia công sạch (Green machining), công nghệ này làm giảm tối thiểu ảnh hưởng của môi trường do sở hữu các tính năng nổi bật như sau: giảm thiểu hao phí, đặc biệt là dung dịch bôi trơn; giảm thiệu điện năng tiêu hao và phát thải CO2; dung dịch bôi trơn có thể dùng dầu sinh học không độc hại thay vì dùng dầu khoáng.
Trước khi Toyota Motor Corporation và Mazda Motor Corporation triển khai hệ thống gia công MQL trong dây chuyền gia công của họ, năng lượng tiêu thụ cho việc làm mát so với tổng công suất điện đạt tới 42% ở Toyota, và 34% ở Mazda, tuy nhiên công suất tiêu thụ thực sự cho trục chính chỉ chiếm 16% tổng công suất, cho việc tẩy rửa các bộ phận gia công chiếm tới 18%. Có thể nhận thấy rằng máy bơm tiêu thụ phần lớn nhất của năng lượng trong các dây chuyền gia công. Điều này cũng có nghĩa là giảm điện năng bằng cách loại bỏ các bơm làm mát là đáng kể, và do đó nó chỉ ra rằng CO2 chắc chắn phát ra trong quá trình tạo ra điện cũng sẽ được giảm đáng kể bằng cách thay thế phương pháp tưới tràn bằng hệ thống gia công MQL. Một số dự báo cho rằng năng lượng điện được sử dụng trong dây chuyền gia công có thể được cắt giảm khoảng một nửa nếu làm sạch các bộ phận gia công cũng trở nên không cần thiết bằng cách áp dụng gia công MQL.
HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN Hình 1. Năng lượng tiêu hao trong nhịp sản xuất Dó đó, công nghệ MQL được ứng dụng rất phổ biến trong nhiều phương pháp gia công như phay, tiện, khoan,… 1. Tình hình nghiên cứu về công nghệ bôi trơn tối thiểu Dhar và các cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của MQL bằng thực nghiệm trong quá trình tiện thép AISI 1040 so sánh với gia công khô. Công nghệ MQL được sử dụng với lưu lượng 200ml/giờ và áp suất là 8 bar thông qua hệ thống cấp bên ngoài.
Với vận tốc cắt là 110 m/ph, lượng chạy dao là 0,16m/vg và chiều sâu cắt là 1,5mm, kết quả khảo sát mòn dao và nhám bề mặt theo thời gian cho thấy khi thời gian gia công từ khoảng trên 5 phút thì MQL vượt trội hơn hẳn so với gia công khô [8]. HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN Hình 1. Mòn mặt sau phụ, Vs dưới điều kiện gia công khô và MQL [8] Hình 1.Nhám bề mặt, Ra dưới điều kiện gia công khô và MQL [8] Kamata và Obikawa đã nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ bôi trơn (gia công khô, tưới tràn và MQL) đến độ nhám bề mặt và tuổi thọ của dụng cụ cắt với các mảnh hợp kim được phủ bằng những phương pháp khác nhau (PVD, CVD). Dung dịch trơn HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 8 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN nguội và luồng khí nén trong công nghệ MQL được trộn lẫn và cấp bởi hệ thống bên trong dụng cụ cắt và tiếp cận với vùng gia công tại hai vị trí mặt trước và mặt sau.
Kết quả cho thấy với cùng một phương pháp phủ thì MQL cho chất lượng bề mặt là tốt nhất, làm tăng tuổi thọ dụng cụ lên khoảng 40% so với gia công khô [9]. Tuổi thọ dụng cụ và độ nhám bề mặt của ba loại dụng cụ phủ khác nhau trong MQL, tưới tràn và gia công khô. (a) Tuổi bền; (b) Độ nhám bề mặt HVTH: PHẠM TUẤN NGHĨA 9 LUẬN VĂN THẠC SĨ CBHD: TS TRẦN ANH SƠN Trong nghiên cứu thực nghiệm của Khan và các cộng sự, phôi thép hợp kim AISI 9310 được tiện với nhiều vận tốc cắt và lượng chạy dao và trong ba điều kiện gia công khô, bôi trơn tối thiểu và tưới tràn với dung dịch trơn nguội sử dụng cho cả hai là dầu thực vật, nhằm nghiên cứu vai trò của MQL trong khả năng gia công của vật liệu phôi trên những chi tiêu nhiệt cắt, quá trình tạo hình của phoi, mòn dao và nhám bề mặt. Hệ thống MQL dạng cung cấp bên ngoài với lưu lượng 100ml/giờ, áp suất khí là 6 bar còn hệ thống tưới tràn với lưu lượng 6 l/phút với áp suất là 0,5 bar.