ĐẶT VẤN ĐỀ Trong công tác ấp trứng gia cầm nhân tạo để nhân giống, không phải lúc nào trứng sau khi thu nhặt từ ổ đẻ cũng có thể đưa vào ấp ngay, do số lượng trứng của một ngày đẻ ít cần phải gom lại đủ số lượng mới tiến hành ấp hoặc do kế hoạch chăn nuôi và đầu ra của quá trình ấp không hợp lý cần phải lui lại một thời gian. Trong thời gian đó có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của trứng làm ảnh hưởng đến kết quả ấp nở và chất lượng đàn con sau khi nở ra như nhiệt độ, độ ẩm, vi sinh vật…Vì vậy, công việc bảo quản trứng là rất quan trọng. Nếu trứng không được bảo quản tốt thì sẽ nhanh bị hư hỏng do vỏ trứng ở trạng thái xốp và có nhiều lỗ khí nên khả năng bốc hơi nước là rất cao, vi sinh vật gây hại dễ dàng xâm nhập vào trong trứng. Đồng thời sự tác động của nhiệt độ môi trường dẫn đến chất lượng trứng bị giảm, giảm sự phát triển của phôi, gây chết phôi trong quá trình ấp.
Sự bay hơi nước làm lòng trắng trở nên đặc dần, chỉ số lòng trắng giảm, tỷ lệ lòng đỏ tăng lên do sự thẩm thấu nước từ lòng trắng sang lòng đỏ, màng lòng đỏ giảm dần tính đàn hồi, chỉ số lòng đỏ giảm xuống, đơn vị Haugh cũng giảm xuống theo thời gian bảo quản, ảnh hưởng tới chất lượng trứng và khả năng phát triển của phôi, ảnh hưởng đến kết quả ấp nở. Còn sự xâm nhập của vi sinh vật gây hại cùng với nhiệt độ của môi trường không thích hợp sẽ làm biến đổi các thành phần hóa học bên trong của trứng gây thối trứng, ảnh hưởng đến chất lượng trứng và kết quả ấp nở. Qua thực tế cho thấy nếu trứng trong quá trình bảo quản được can thiệp bằng các biện pháp sát trùng và kích thích trứng sẽ giúp giữ được chất lượng trứng, tạo ra con giống khoẻ mạnh, giúp tăng tỷ lệ ấp nở trong các cơ sở ấp tập trung và các trang trại chăn nuôi. Để hạn chế sự tổn thất sau thu hoạch trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng, đồng thời tìm ra các biện pháp sát trùng, kích thích trứng trong thời gian bảo quản để tăng tỷ lệ ấp nở là vấn đề cần thiết cấp bách đặt ra hiện nay nhằm giúp người chăn nuôi bảo quản và giữ được chất lượng trứng, tạo ra con giống có chất lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Xuất phát từ vấn đề đó chúng tôi tiến hành n 2 nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và kích thích trứng trong thời gian bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà”. Mục đích của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng oxy già (H2O2); hỗn hợp formol + thuốc tím (HCHO + KMnO4) để sát trùng trứng trước khi bảo quản trong điều kiện không có kho lạnh. - Xác định ảnh hưởng của việc sử dụng hỗn hợp (glucoza + vitamin B12); hỗn hợp vitamin nhóm B để kích thích trứng trong thời gian bảo quản đến kết quả ấp nở. - Xác định được phương pháp sát trùng tối ưu, thăm dò ảnh hưởng của vitamin và glucoza dùng kích thích trứng trước khi ấp, nhằm tăng kết quả ấp nở.
- Góp phần hoàn thiện quy trình ấp nở của trứng gà và trứng các loại gia cầm khác cho các cơ sở ấp trứng tập trung và gia trại. n 3 Phần thứ hai TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Quá trình bảo quản trứng ấp 2.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của trứng trong thời gian bảo quản Trứng gia cầm đẻ ra nếu đưa ngay vào ấp thì rất tốt. Nhưng thông thường, không thể đủ số lượng để làm ngay như vậy, cho nên trứng phải được bảo quản (gom lại) vài ba ngày mới cho vào ấp. Để đảm bảo trứng ấp có đủ tiêu chuẩn, trong thời gian bảo quản có hai yếu tố chính phải ngăn ngừa càng nhiều càng tốt là: Sự phát triển của phôi và bốc hơi nước từ trứng. Bằng cách như vậy sẽ đảm bảo được chất lượng bên trong của trứng như đơn vị Haugh (HU), chỉ số lòng đỏ.
Chất lượng của trứng trong quá trình bảo quản phụ thuộc vào các yếu tố sau: * Nhiệt độ Sau khi trứng đẻ ra, nhiệt độ giảm dần từ 41 0C (t0 gia cầm mái) tới nhiệt độ chuồng nuôi, khi nhiệt độ lớn hơn 27 0C thì phôi vẫn tiếp tục phát triển. Phôi có khả năng sống cao nhất trong giai đoạn bảo quản, nếu sau 5 - 6 giờ đẻ ra trứng được hạ nhiệt độ xuống dưới 27 0C. Khi trứng ấp phải bảo quản vài ngày hoặc thậm chí 2 - 3 tuần, nó cần nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ môi trường bên ngoài. Điều quan trọng cần biết là: khi bảo quản trứng ở nhiệt độ thấp nếu ngay lập tức ta chuyển trứng từ kho lạnh ra ngoài phòng có nhiệt độ cao hơn sẽ xảy ra hiện tượng trứng có “mồ hôi”, điều này sẽ bất lợi vì tạo điều kiện ẩm ướt cho vi khuẩn bám vào bề mặt vỏ trứng xuyên qua lỗ khí đi vào trong.
Vì vậy, trước khi chuyển trứng đi (hay mang đi ấp) nửa ngày, cần tăng nhiệt độ ở kho bảo quản, hoặc tăng dần nhiệt độ cho trứng bảo quản. Thời gian bảo quản ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng trứng và kết quả ấp nở, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của nó còn phụ thuộc vào điều kiện môi trường bảo quản. Nhiệt độ là yếu tố tác động chính và nó có mối quan hệ với thời gian bảo quản. Nghiên cứu về vấn đề này, Jack và cs (1974) [7] cho biết trứng bảo quản ở n 4 nhiệt độ 20 oC hoặc 32 oC trong vòng 3 ngày cho kết quả ấp nở tốt hơn trứng được bảo quản ở 15 oC trong cùng thời gian.
* Ẩm độ Trong quá trình bảo quản trứng ấp, ngoài chế độ nhiệt thì ẩm độ cũng rất quan trọng. Vì ẩm độ không khí có ảnh hưởng đến khối lượng trứng: độ ẩm không khí nơi bảo quản càng cao thì trứng càng mất ít nước, do đó sự hao hụt khối lượng trứng càng giảm trong thời gian bảo quản. Trong quá trình bảo quản, ẩm độ tương đối đến 60 % sau 5 ngày bảo quản tỷ lệ hao hụt khối lượng trứng là 1,27 % và 2,23 % sau 10 ngày bảo quản. Ở ẩm độ 68 % sau 5 ngày tỷ lệ hao hụt khối lượng trứng là 0,81 % và 1,48 % sau 10 ngày bảo quản.
Còn ở ẩm độ 86 % sau 5 ngày bảo quản tỷ lệ hao hụt khối lượng trứng là 0,31 % và 0,7 % sau 10 ngày bảo quản. Như vậy, điều kiện bảo quản trứng không phù hợp khi đưa trứng vào ấp sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng trứng. Vì vậy, tốt nhất là bảo quản trứng không quá 5 ngày ở nhiệt độ bảo quản từ 16 - 20 0C, ẩm độ tương đối là 70 - 80 %. Ảnh hưởng của thuốc sát trùng đến chất lượng trứng trong quá trình bảo quản Tiêu độc hóa học là phương pháp được dùng phổ biến trong công tác ấp trứng gia cầm.
Các chất hóa học dùng để tiêu độc, sát trùng thường có tác dụng làm tiêu biến protein hoặc làm kết tủa protein của vi khuẩn hoặc tác dụng kết hợp với các chất cần thiết đối với đời sống của vi sinh vật tạo thành các sản phẩm độc hại, khi vi sinh vật ăn phải sẽ có tác dụng tiêu diệt ngay chính bản thân virus, vi khuẩn đó. Hiệu lực tác dụng của các chất hoá học phụ thuộc vào tác dụng đặc hiệu của chất đó và sức đề kháng của từng loại mầm bệnh đối với chất đó. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nồng độ, nhiệt độ của dung dịch đang dùng, cũng như nhiệt độ được sát trùng, thời gian tác dụng trên đối tượng đó và tính chất vật lý hoá học của đối tượng tiêu độc. Chẳng hạn cho clo ở dạng khí khi tiếp xúc với vi khuẩn nó sẽ tác dụng với protein của vi khuẩn và tạo thành protenat, do vậy có tác dụng tiêu diệt vi n 5 khuẩn.
Nhưng trong môi trường ẩm ướt khí Cl2 có tác dụng diệt trùng cao hơn vì tạo thành axit hypoclorit (HClO) và axit clohidric (HCl), các chất này có tác dụng ôxy hoá mạnh, phân hủy các chất hữu cơ của vi khuẩn. * Prophyl (do công ty Merial sản xuất): Là một loại thuốc sát trùng và khử mùi đa dụng. Thuốc ở dạng lỏng, màu hơi xanh, mùi hắc nhẹ, dễ chịu. Prophyl là một chất phenol tổng hợp (công thức hoá học 4 - Chloro 3 - methyl phenol 2 - benzy; 4 chlorophenol) có tác dụng: diệt khuẩn; không bị ảnh hưởng của chất bẩn; phổ hoạt rộng; tiêu huỷ mầm bệnh nhanh và có tác dụng kéo dài.
* Virkon (do hãng Bayer - CHLB Đức sản xuất): Là một hoá dược và là một hợp chất bao gồm: Proxygen, Sulfatant, Organic axit, Irorganicbufen. Virkon có tác dụng rộng, diệt được hầu hết các loại virus, vi khuẩn và nấm thường xuyên gây bệnh cho gia súc, gia cầm. * Formol: Thuốc có tác dụng hầu hết với các loại vi khuẩn gram (+), gram (-), virus, nấm (trừ ký sinh trùng). Khi xông khí formol nếu là dạng lỏng phải kết hợp với thuốc tím.
Khử trùng trứng phải được tiến hành trong buồng kín, sạch đảm bảo các yêu cầu: Buồng xông phải kín và nhẵn bóng, không bị nứt, hở. Trong thời gian xông khí phải đảm bảo quạt đảo khí hoạt động tốt để cho khí xông tiếp xúc với toàn bộ bề mặt vỏ trứng. Khi xông khử trùng trứng bằng thuốc tím và formol ta có thể dùng với liều lượng sau: 10 g thuốc tím + 20 ml formol/ 1m3 thể tích buồng xông. Thời gian xông khí phải kéo dài từ 20 - 25 phút, sau đó mở của buồng xông cho khí lưu thông, nếu cần có thể dùng amoniac 40 % để trung hoà (40 ml/ m3) * Han Iodine 10 % (do công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet sản xuất): n 6 Thành phần có chứa P.
Iodine và glycerin. Iodine có tác dụng đối với cả vi khuẩn gram (+), gram (-), nha bào, nấm và phần lớn các virus. Nó có tác dụng diệt mầm bệnh bằng cách khuyếch tán vào trong tế bào trứng và tác dụng đều với các phản ứng chuyển hoá và bằng cách đó làm rối loạn tổng hợp protein và cấu trúc của axit nucleic. Iodine là loại thuốc dễ sử dụng không gây độc cho người, môi trường và động vật.