MỞ ĐẦU Ung thư là chứng bệnh nan y nguy hiểm của thế kỷ 21, với số lượng người mắc tăng nhanh, nhất là trong thời gian gần đây. Trong đó, ung thư vú là một trong những bệnh ác tính được chẩn đoán thường gặp nhất ở phụ nữ. Bất chấp những thành tựu đạt được trong những thập kỷ qua, ung thư vú vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đến ngày 26/03/2021, trên toàn thế giới có 2,3 triệu phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú và 685.000 ca tử vong trong năm 2020 khiến nó trở thành loại ung thư phổ biến nhất thế giới1.
Riêng tại Việt Nam, ung thư vú là một trong ba loại ung thư có tỉ lệ mắc nhiều nhất tại Việt Nam (21.555 ca) và là ung thư hàng đầu ở nữ giới (chiếm 25,8%)2. Hiện nay nhiều nghiên cứu trên toàn thế giới đang được tiến hành để tìm ra loại thuốc chống ung thư mới. Sự gia tăng liên tục về tỷ lệ mắc ung thư, nhiều tác dụng phụ của các loại thuốc đang sử dụng, cũng như sự phát triển đề kháng của khối u đối với thuốc buộc phải nghiên cứu liên tục các phân tử mới với cấu hình hiệu quả an toàn hơn. Vì vậy, việc sàng lọc và tìm kiếm các hợp chất mới có hoạt tính kháng ung thư là một việc làm hết sức thiết thực và cấp bách.
Chalcon là hợp chất flavonoid, thường được sử dụng cho việc thiết kế, tổng hợp nhiều hợp chất. Các báo cáo nghiên cứu cho thấy các dẫn xuất chalcon thể hiện được nhiều hoạt tính sinh học bao gồm: kháng viêm (Phrutıvorapongkul và cộng sự, 2003)3, kháng oxy hóa (Christov và cộng sự, 2006)4, kháng khuẩn (Liaras và cộng sự, 2011)5, và đặc biệt là kháng ung thư (Ullah và cộng sự, 2007)6. Chính vì những hoạt tính sinh học đa dạng mà các dẫn xuất chalcon luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà hóa học cả trong và ngoài nước. Theo nhiều công trình khoa học đã công bố, nhiều dẫn xuất chalcon đã cho tác dụng ức chế sự tăng sinh, sự hình thành mạch và gây ra quá trình chết theo.
2 chu trình của tế bào ung thư vú MCF7 như dẫn xuất chứa vòng pyrazol (Magda F. Mohamed và cộng sự, 2014)7, dẫn xuất nitro và trifluoromethyl (Fatimah Hashim và cộng sự, 2018)8, dẫn xuất napthalen (Guangcheng Wang và cộng sự, 2020)9. Với những tiềm năng của chalcon trong điều trị ung thư vú, việc nghiên cứu tìm thêm nhiều dẫn chất chalcon mới có tác dụng sinh học tốt là hết sức cần thiết. Vi ống là thành phần quan trọng của tế bào nhân chuẩn và đóng vai trò quan trọng trong các chức năng của tế bào như duy trì hình thái tế bào, truyền tín hiệu, vận chuyển các bào quan, sự vận động của tế bào và nguyên phân.
Vì vậy vi ống đã trở thành một trong những mục tiêu thuốc quan trọng nhất trong điều trị ung thư. Các tác nhân nhắm mục tiêu vi ống có thể phá vỡ động lực học và cấu trúc của vi ống, làm xáo trộn thêm sự hình thành trục phân bào, ngăn chặn chu kỳ tế bào ở kỳ giữa/kỳ sau của quá trình nguyên phân và gây ra cái chết theo chương trình của tế bào10. Từ các cơ sở trên, nghiên cứu “Nghiên cứu 2D-QSAR trên dòng tế bào MCF7 và mô hình docking trên tubulin của các dẫn chất chalcon” được thực hiện với mục tiêu tìm ra các dẫn chất chalcon có khả năng ức chế MCF7 để điều trị ung thư vú. Để đạt được mục tiêu đã đề ra, nghiên cứu đề ra ba mục tiêu cụ thể sau: 1.
Xây dựng mô hình 2D-QSAR nhằm xác lập mối liên quan giữa các thông số lý hóa đặc trưng và tác dụng kháng ung thư của các dẫn chất chalcon. Xây dựng mô hình mô tả phân tử docking nhằm đánh giá khả năng gắn kết của các dẫn chất chalcon trên tubulin. Ứng dụng 2 mô hình và mô phỏng động lực học phân tử nhằm sàng lọc tìm ra dẫn chất chalcon tiềm năng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu chung về chalcon 1. Cấu trúc chung Chalcon là hợp chất flavonoid có chứa vòng, cấu trúc hóa học là 1,3- diphenyl-2-propen-1-on tồn tại ở 2 cấu dạng là E hoặc Z, có hai vòng thơm (vòng A và B) được nối với nhau bằng mạch hở ba carbon không no hệ liên hợp α, β-carbonyl. Chalcon có hai đồng phân hóa học là đồng phân E và Z trong đó đồng phân E bền vững về mặt nhiệt động học hơn nên cấu hình E chiếm đa số trong các cấu hình chalcon được tìm thấy11. Các dẫn chất chalcon Hình 1.
Công thức chung của các dẫn chất chalcon. Các nhóm thế R, R’ trên vòng A, B có thể là CH3, OH, OCH3, isophenyl,… với các chalcon có nguồn gốc thiên nhiên hay NO2, các halogen,… trên các chalcon tổng hợp. Các chalcon có nguồn gốc tự nhiên thường là các monomer và đa dạng về cấu trúc. Một số chalcon có khả năng chống ung thư được phân lập từ thiên nhiên như isoliquiritigenin, butein và isobavachalcon11.
Isoliquiritigenin (2’,4’,4-trihydroxychalcon) được biết là có tiềm năng điều trị chống lại các bệnh ung thư khác nhau, bao gồm ung thư vú, ung thư ruột kết, ung thư đường tiêu hóa, ung thư phổi, ung thư buồng trứng, bệnh bạch cầu và. Isoliquiritigenin Isobavachalcon được tìm thấy trong các cây thuộc họ đậu Fabaceae và họ Dâu tằm Moraceae. Isobavachalcon hoạt động chống lại nhiều loại ung thư bằng cách nhắm mục tiêu vào con đường tín hiệu kinase điều hòa tín hiệu ngoại bào giúp chống tăng sinh khối u. Ngoài ra, isobavachalcon còn ức chế thụ thể estrogen alpha (ERα) và giảm biểu hiện kháng nguyên CD44, dẫn đến giảm đề kháng paclitaxel trong ung thư vú ER+13.
Các phương pháp tổng hợp chalcon Các hợp chất chalcon tồn tại ở 2 dạng trans và cis, và đồng phân trans ổn định hơn về mặt nhiệt động lực học, vì vậy nó là cấu hình chủ yếu giữa các chalcon14. Các phương pháp được sử dụng trong quá trình tổng hợp khung chalcon (1,3-diphenyl-2-propen-1-on) gồm phản ứng ngưng tụ Claisen– Schmidt, phản ứng Heck, phản ứng cộng, phản ứng Sonogashira, phản ứng Suzuki–Miyaura, phản ứng qua trung gian chất xúc tác acid rắn,. Trong số tất cả các phương pháp, phương pháp ngưng tụ Claisen–Schmidt là phương pháp phổ biến nhất, thường được áp dụng để tổng hợp chalcon. Phản ứng Claisen–Schmidt được tiến hành tương đối đơn giản khi cho dẫn chất acetophenon và benzaldehyd tác dụng với nhau ở nhiệt độ phòng hoặc gia nhiêt đến 50oC với xúc tác là dung dịch hydroxyd kiềm hoặc natri ethoxyd (C2H5ONa) có nồng độ trong khoảng 10–60%.
Sản phẩm tạo thành có chứa liên. 5 kết đôi carbon-carbon không phụ thuốc vào độ phức tạp của cấu trúc của các phân tử tham gia ngưng tụ. Phản ứng ngưng tụ Claisen–Schmidt. Tác dụng sinh học Chalcon có cấu trúc flavonoid và có mặt ở khắp nơi trong nhiều sản phẩm tự nhiên.
Chalcon có cấu trúc nhỏ và là chất nhận Michael, khiến chúng có khả năng liên kết hoặc phản ứng với các phân tử sinh học khác nhau giúp chúng có tác dụng sinh học rất đa dạng. Các dẫn chất chalcon có tác dụng chống ung thư, chống viêm, chống đái tháo đường, chất chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm và chống sốt rét11. Ứng dụng trong lâm sàng Các dẫn chất chalcon đã chứng minh được tiềm năng sinh học rất lớn. Một số ví dụ về các dẫn chất chalcon hiện đang được thử nghiệm trên lâm sàng là thuốc lợi tiểu Metochalcon và thuốc chống loét và bảo vệ niêm mạc nhầy Sofalcon17.
Giới thiệu chung về mục tiêu tác động 1. Tế bào MCF7 MCF7 là tế bào ung thư biểu mô tuyến vú ở người, được phân lập vào năm 1970 từ một phụ nữ da trắng 69 tuổi. Trước MCF7, các nhà nghiên cứu ung thư không thể có được dòng tế bào động vật có vú có khả năng sống lâu hơn một. 6 vài tháng.
MCF7 và hai dòng tế bào ung thư vú khác là T-47D và MDA-MB- 231, chiếm hơn hai phần ba tất cả các nghiên cứu báo cáo tóm tắt về các dòng tế bào ung thư. Các tế bào MCF7 bắt nguồn từ tràn dịch màng phổi, là dòng tế bào kém xâm lấn, được coi là có khả năng di căn thấp18,19. Vi ống Vi ống là những cấu trúc hình trụ dài rỗng giữa, không phân nhánh, đường kính trung bình 25 nm, chiều dài thay đổi tuỳ tình trạng tế bào và có thể lên đến vài µm. Vi ống có thể ở dạng tự do trong tế bào, vi ống thần kinh axon hay tạo thành cấu trúc ổn định như trung tử, lông, roi.
Vi ống có vai trò tạo thành thoi và sao phân bào kéo các nhiễm sắc thể về hai cực, vận tải nội bào, duy trì hình dạng của tế bào, tham gia hình thành, vận chuyển các bóng nhập bào, xuất bào, duy trì tính ổn định của màng sinh chất, tạo tính phân cực cho tế bào 20. Tubulin và sự trùng hợp vi ống Vi ống có cấu tạo từ protein tubulin. Mỗi phân tử protein tubulin là một dị nhị tụ (heterodimer) gồm hai đơn phân (monomer) là α-tubulin và β-tubulin (kích thước 4 x 5 x 8nm, trọng lượng 100.000 đơn vị C) trùng phân thành nguyên sợi mảnh. α và β-tubulin có chung 40% chuỗi acid amin, tồn tại ở nhiều dạng isotype, trải qua một loạt các biến đổi sau dịch mã 21.
Mỗi đơn phân tubulin gắn với một phân tử guanosin triphosphat (GTP) giàu năng lượng. Ngoài ra, cấu trúc của α và β-tubulin về cơ bản giống hệt nhau: một lõi gồm hai phiến gấp β bao quanh bởi xoắn α. Một đơn phân có thể chia thành ba miền chức năng: đầu amino là vùng liên kết với nucleotid, miền trung gian là nơi gắn Taxol, đầu carboxy có thể liên kết với các protein vận chuyển. Sự trùng hợp tubulin xảy ra trong pha G2, khi các nhiễm sắc thể co xoắn.
7 chặt chuẩn bị cho nguyên phân, 13 protein tubulin sẽ xếp lại với nhau thành vòng xoắn tạo nên thành vi ống dày 5 nm. Sự trùng hợp có tính thuận nghịch và xảy ra với sự có mặt của ion Mg2+ và GTP22. Sau khi hình thành, các vi ống này không bền. Chúng tồn tại trong trạng thái cân bằng, với các dimer tubulin- GTP liên tục thêm vào đầu (+) của vi ống và thủy phân ở đầu (-) thành tubulin- GDP.
Sự cân bằng và kiểm soát chiều dài của các vi ống có vai trò quan trọng đối với các chức năng của chúng23. Cấu trúc và sự bất ổn định động học của vi ống10. Vai trò trong kháng ung thư Ung thư là tình trạng mất cân bằng giữa sự phân chia tế bào và sự chết tế bào, dẫn đến tăng sinh tế bào không kiểm soát.