Chương 1: Lý luận nghĩa vụ của người quản lý trong công ty cổ phần theo pháp luật Chương 2: Thực trạng nghĩa vụ của người quản lý trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nghĩa vụ của người quản lý trong công ty cổ phần. 9 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, đặc điểm về công ty cổ phần CTCP được biết đến như là một hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến trong xã hội. Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau.
Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ phần (Kabushiki Kaisha)…4 Ở Việt Nam, CTCP được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: theo LDN (bao gồm cả CTCP được đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký chuyển đổi từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và từ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Về mặt lịch sử hình thành, CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý. Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần.
Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về công ty cổ phần5. Ở Việt Nam, luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, quy định của Pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai. Dưới thời Pháp thuộc, các quy định của Bộ luật 4 Viện Kinh tế Thế giới. Công ty cổ phần? Các nước phát triển – Qúa trình thành lập, tổ chức quản lý, Nxb.
5 Lê Minh Trường (2012), Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần trên Thế giới và Việt Nam, link: https://luatminhkhue.vn/lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-cong-ty-co-phan-tren-the-gioi-va-viet- nam.aspx 10 Thương mại Pháp năm 1807, trong đó có quy định về hình thức CTCP được áp dụng ở cả ba kỳ tại Việt Nam. Đến năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó có quy định về CTCP (gọi là công ty vô danh). Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thương mại, trong đó CTCP được gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các hội viên mệnh danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần” (Điều 236) và “chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ 7 người trở lên” (Điều 295).6 Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước vào năm 1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung và CTCP nói riêng hầu như không được pháp luật thừa nhận. Cho đến khi Luật công ty được ban hành ngày 21/12/1990, hình thức CTCP mới chính thức được quy định cụ thể.
Lược sử quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công ty cổ phần cho thấy sự phát triển của công ty cổ phần gắn liền với quá trình hoàn thiện của các đạo luật doanh nghiệp. Năm 1999, nước ta ban hành Luật Doanh nghiệp (thay thế Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân). Ngày 19/11/2005, LDN năm 2005 được ban hành thay thế cho LDN năm 1999. Ngày 26/11/2014, thông qua LDN 2014 thay thế cho LDN 2005.
Và ngày 17/6/2020, Quốc hội thông qua LDN 2020 thay thế cho LDN 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Hiện tại, LDN năm 2020 là đạo luật cơ bản quy định về tổ chức và hoạt động của công ty. Có thể thấy, liên quan đến CTCP, trong vòng 30 năm, nước ta đã có 5 đạo luật đã được ban hành. Theo đó, các hình thức công ty liên tục được đề cập và có bước phát triển vượt bậc về chất 6 Lịch sử hình thành và phát trển công ty cổ phần trên từ thế giới và ở Việt Nam, Từ Thảo, https://thongtinphapluatdansu.vn/2010/05/03/4791/ 11 lượng theo hướng tiếp cận các giá trị pháp lý hiện đại về công ty trên thế giới, các quyền và nghĩa vụ của công ty, cổ đông ngày càng được bổ sung và cụ thể hóa.
CTCP với tính cách là một công ty đối vốn điển hình được ghi nhận từ điều 111 đến điều 176 LDN 2020. Cơ cấu tổ chức, hoạt động, quyền, nghĩa vụ và cổ đông công ty được xác định trong 66 điều luật. CTCP trước hết là một loại hình doanh nghiệp đảm bảo các điều kiện cần có của một doanh nghiệp theo khoản 10 Điều 4 LDN 2020 “là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”, trong đó: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, đồng thời được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng theo luật định; Công ty có tư cách pháp nhân và được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.7 Từ khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm sau của công ty cổ phần: Thứ nhất, công ty cổ phần có sự tách biệt về tài sản của công ty với tài sản của các chủ sử hữu là cổ đông.
Công ty cổ phần có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và người nắm giữ cổ phần là cổ đông của công ty. Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp, là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần. Theo 7 Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 12 quy định pháp luật hiện hành, khi CTCP mới thành lập, mệnh giá cổ phần là 10. Tài sản của CTCP được hình thành từ vốn góp của các cổ đông thể hiện dưới dạng cổ phần.
Cổ đông chuyển quyền sở hữu tài sản của mình vào công ty và tự nguyện trao quyền sử dụng, quyền định đoạt phần tài sản đó cho công ty thông qua việc mua cổ phần của công ty hoặc chuyển giao quyền sở hữu tài sản theo quy định pháp luật. Cổ đông có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, là những người đồng sở hữu công ty tương ứng với số cổ phần mà họ nắm giữ. Trong công ty cổ phần có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Mọi quyền lực trong công ty đều gắn liền với tỷ lệ vốn góp bởi mọi quyết định quan trọng trong công ty đều được thông qua bằng việc biểu quyết của tất cả các cổ đông, mà biểu quyết lại dựa trên tỉ lệ vốn góp.
Điều này thể hiện rõ ai có nhiều vốn người đó sẽ có nhiều quyền lực trong công ty. Đặc biệt, những cổ đông hội đủ số phiếu áp đảo thì họ sẽ chi phối mọi hoạt động của công ty bằng quyền phủ quyết của mình. Do vậy, cấu trúc vốn sẽ chi phối quyền lực trong CTCP, tạo nên sự sòng phẳng trong mô hình kinh doanh này. Sự tách biệt về tài sản giữa chủ sở hữu và công ty đặt ra những vấn đề pháp lý về trách nhiệm, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu của các cổ đông với công ty và cũng đồng thời đặt nền móng cho quan hệ ủy quyền giữa cổ đông với công ty, với những cổ đông giữ vai trò quản lý, điều hành công ty.
Thứ hai, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Tính chất hữu hạn được xác định dựa trên tính chịu trách nhiệm của các cổ đông đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của công ty. Theo đó, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi tài sản đã góp hoặc cam kết góp vào công ty. Bản thân công ty, với tư cách là một chủ thể độc lập luôn chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba bằng tất 13 cả những tài sản thuộc sở hữu của công ty, tương tự như tính chất chịu trách nhiệm vô hạn đã được xác định của chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh.
Tính chất trách nhiệm hữu hạn của cổ đông không chỉ thể hiện sự tách biệt về tài sản của công ty với tài sản thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu và NQLCT, mà còn cho phép hình thành cơ chế bảo vệ tài sản thuộc sở hữu riêng của cổ đông. Chủ nợ của công ty không được và không thể yêu cầu cổ đông thực hiện các nghĩa vụ tài sản ngoài số tài sản mà họ đã góp hoặc cam kết góp vào công ty. Như vậy, khi tham gia vào công ty cổ phần, cổ đông sẽ lường trước được rủi ro của mình. Nếu công ty kinh doanh không tốt, thậm chí phá sản, cổ đông cũng chỉ mất tối đa số vốn đã góp vào doanh nghiệp mà thôi.
Quy định này giúp cho nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốn vào CTCP vì đã lường trước được rủi ro của mình. Trong công ty cổ phần, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật Doanh nghiệp. Bằng quy định này, pháp luật cho phép cổ đông có quyền rút lui, thậm chí là tháo chạy nếu mục đích góp vốn vào CTCP không đạt được.