CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN TRIỆU TẬP ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG CỦA CỔ ĐÔNG LỚN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Nhận diện về cổ đông lớn trong cấu trúc của công ty cổ phần 1. Cấu trúc công ty cổ phần Mô hình công ty cổ phần được pháp luật ghi nhận vào năm 1867 ở Pháp và vào năm 1870 ở Đức. Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy, hình thức công ty này đã được phôi thai từ thời La Mã cổ đại (Ngô Huy Cương, 2013).
Điều này lý giải bởi mô hình CTCP không phải là sáng kiến của những nhà làm luật mà được hình thành từ hoạt động thương mại và các thương nhân đã tự xây dựng các luật lệ của họ rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và dần được hoàn thiện hơn qua từng thời kỳ. Nước Anh là một ví dụ cho thấy điều này. Luật công ty của Anh được ban hành lần đầu tiên vào năm 1844, Luật về công ty cổ phần ban hành từ năm 1856 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các CTCP. Các tài liệu nghiên cứu hiện nay cho thấy, mô hình CTCP được cấp phép hoạt động đầu tiên trên thế giới là East India Company (được gọi là công ty Đông Ấn) được thành lập ở nước Anh.
Công ty này bị giải thể vào năm 1874 khi không được gia hạn giấy phép. Cấu trúc của mô hình công ty đầu tiên này được đánh giá là hoạt động hết sức lỏng lẻo, đơn giản là “Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi” (Đoàn Văn Trường, 1996). Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, CTCP bắt đầu phát triển và hoạt động đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau như xây dựng, giao thông đường sắt, đường biển, ngân hàng, bảo hiểm… Nhu cầu tích tụ vốn lớn để có tiềm lực tài chính nhằm xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội vào những năm đầu của thế kỷ XIX đã tạo đà cho CTCP phát triển mạnh mẽ bởi tính đặc trưng của việc tập trung vốn rộng rãi. “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt” (Các Mác, tr.199), đó chính là vai trò to lớn mà công ty cổ phần đã đóng góp vào nền kinh tế của thế giới.
8 Ở Việt Nam, Bộ Dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc Kỳ được coi là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về CTCP. Quy định về đặc điểm của hội vô danh - mô hình CTCP được quy định tại Điều 1263 - Nói về hội vốn. Theo đó khái niệm hội vô danh được hiểu là: “Hội gồm nhiều hội viên không quen biết nhau, được tùy tiện bán phần của mình, gọi là cổ phần, mà tự do ra hội khi nào cũng được và hội có công nợ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm tới ngang số vốn mà mình góp mà thôi”. Như vậy có thể nói hội vô danh được quy định tại luật này đã mang những đặc trưng cơ bản của CTCP như quy định pháp luật hiện nay.
Các văn bản pháp lý tiếp theo như Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807, Bộ luật thương mại Trung phần năm 1944 hay Bộ luật Thương mại năm 1972 của chính quyền Việt Nam cộng hòa đều có quy định về CTCP với các tên gọi khác nhau (Từ Thảo, 2024). Sau giải phóng, có nhiều văn bản pháp luật quy định về hoạt động kinh tế nhưng đến năm 1990, CTCP mới chính thức được quy định cụ thể. Theo Luật Công ty 1990, CTCP được quy định tại Điều 30 với một số đặc điểm như: Thành viên của CTCP được gọi là CĐ và phải có ít nhất là bảy CĐ trong suốt quá trình hoạt động. CĐ có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phiếu.
Mặc dù cổ phiếu có thể có ghi tên hoặc không ghi tên nhưng riêng đối với những CĐ sáng lập và thành viên HĐQT thì phải sở hữu cổ phiếu có ghi tên. Khi sở hữu cổ phiếu ghi tên thì CĐ sẽ bị hạn chế quyền chuyển nhượng. Mặc dù các quy định về CTCP tại Luật Công ty 1990 còn sơ khai, chỉ bao gồm 13 điều luật nhưng đây là nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện dần mô hình CTCP tại Việt Nam. Mô hình công ty cổ phần đã được hoàn thiện dần qua các thời kỳ sửa đổi, bổ sung của Luật Doanh nghiệp năm 1999, năm 2005, năm 2014 và Luật Doanh nghiệp hiện hành năm 2020.
Trên thế giới, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau. Ví dụ như Pháp gọi là anonymous Company (công ty vô danh), Anh là Company LTD (công ty với trách nhiệm hữu hạn), Mỹ là Commercial Coporation (công ty kinh doanh), Nhật Bản gọi là Kabushiki Kaisha (công ty chung cổ phần) (Viện Kinh tế thế giới, 1991). 9 Mô hình công ty này được xem là công ty đối vốn, hay là công ty vô danh. Vốn của công ty được chia thành các cổ phần, và người nắm giữ các cổ phần được gọi là các cổ đông.
Công ty cổ phần sẽ có một số đặc trưng như sau: (i) Là loại công ty đối vốn, có nghĩa là người ta sẽ không quan tâm đến những vấn đề thuộc về nhân thân của người góp vốn vào CTCP, việc sở hữu tỷ lệ CP của CĐ trong công ty sẽ quyết định đến quyền lực và quyền lợi của CĐ mà không liên quan đến công sức đóng góp. Chính vì không quan tâm đến những điều kiện về sự tin tưởng, quen biết và uy tín, trình độ của cổ đông nên CTCP có thể có đến hàng triệu các cổ đông ở khắp nơi trên thế giới. Không chỉ bản thân các CĐ có thể không quen biết nhau mà các CĐ còn có thể không quan tâm đến vấn đề quản trị nội bộ của chính công ty mình bỏ vốn vào, do họ không trực tiếp tham gia quản lý điều hành công ty, dẫn tới mô hình công ty này có một sự tách biệt trong công việc quản trị công ty với cơ quan chủ sở hữu. (ii) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: So với các loại hình doanh nghiệp như công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân thì CTCP có cơ cấu tổ chức quản trị chặt chẽ nhất.
Quy định pháp luật của Việt Nam và pháp luật của nhiều nước trên thế giới sẽ can thiệp vào vấn đề quản trị của công ty cổ phần thông qua việc quy định mô hình tổ chức của CTCP với mỗi cơ quan đều được phân tách chặt chẽ về thẩm quyền riêng biệt. Nếu như công ty hợp danh hoặc công ty TNHH, bản thân chủ sở hữu cũng là người quản lý công ty thì CTCP có sự khác biệt, chủ sở hữu không đương nhiên là người quản lý công ty, hoặc nếu cổ đông là người quản lý công ty thì họ có hai vai trò và thẩm quyền riêng biệt, vai trò của CĐ và vai trò của người quản lý. Họ cũng không thể sử dụng quyền sở hữu CP chi phối của mình để tác động vào các quyết định với vai trò là người quản lý công ty. Sự tách biệt thẩm quyền của CĐ và thẩm quyền của người quản lý công ty là phù hợp với mô hình công ty lớn, số lượng cổ đông không giới hạn.
Điều đó là hợp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của những người là chủ sở hữu công ty (tức là các CĐ), ngăn cản sự lạm quyền của những người được CĐ ủy quyền quản lý công ty; ngăn cản sự tác động xấu của công ty tới xã hội từ quyền được phép phát hành các loại chứng khoán. 10 (iii) Khả năng huy động vốn rộng rãi và sự tự do chuyển nhượng vốn: Trong các loại hình doanh nghiệp, nếu công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào; Công ty TNHH không được phép phát hành CP nhưng có thể phát hành trái phiếu thì CTCP là doanh nghiệp được phép phát hành các loại chứng khoán nhằm huy động vốn rộng rãi trong công chúng nếu đáp ứng đủ điều kiện; đồng thời việc chuyển nhượng vốn rất dễ dàng khiến cho số lượng CĐ công ty có thể thường xuyên biến động. Ngoài việc được phép phát hành CP rộng rãi để huy động vốn, CTCP còn được quyền cấu trúc loại CP ưu đãi khác nhau để đáp ứng được mọi mong muốn của các nhà đầu tư. Đúng như Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Đình Cung (2009) đã cho rằng “Công ty cổ phần là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động được nhiều vốn nhất cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế mỗi quốc gia phát triển”.
(iv) Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của CTCP trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Chỉ có công ty mới phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của mình. Đặc điểm này không đương nhiên được công nhận ngay từ khi xây dựng các quy chế pháp lý cho CTCP. Ở Anh, Luật về công ty cổ phần được ban hành năm 1844.
Mặc dù vào thời điểm này, pháp luật của Anh tạo các điều kiện về thủ tục thuận lợi cho việc thành lập CTCP, bằng việc quy định nhà đầu tư chỉ cần đăng ký chứ không phải xin phép, tuy nhiên, luật này lại không cho công ty được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Điều này dẫn tới vào những năm 1850 có hơn 40 công ty của Anh sang Pháp để thành lập doanh nghiệp và họ chấp nhận trả mức chi phí thành lập công ty rất cao. Đứng trước nguy cơ mất doanh nghiệp, gây thiệt hại về kinh tế buộc Chính phủ Anh phải thay đổi các chính sách pháp lý của mình thông quan việc ban hành luật về tính trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Act) vào năm 1855 dành cho các công ty đã được thành lập theo luật về công ty cổ phần. Và vào năm 1862, hai luật được sáp nhập thành một gọi là Companies Act (nghĩa là Luật về công ty) (Lê Minh Trường, 2023).
Như vậy, khái niệm CTCP có thể hiểu là một dạng pháp nhân mà các nhà đầu tư được hưởng cơ chế chịu trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và hoạt động độc 11 lập đối với những chủ sở hữu tạo ra chúng. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư một cách rộng rãi.