đặt vấn đề nghiên cứu nghệ thuật thơ một cách hệ thống. Trước đó, tác giả Nguyễn Phước Hải Trung đã thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa” (Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Huế, 2006). Đây là một đề tài nghiên cứu có hệ thống về 191 bài thơ chữ Hán với hướng tiếp cận thống kê ngôn ngữ học và phân tích đặc điểm ngôn ngữ, từ đó rút ra những nội dung của hệ thống thơ chạm khắc trên điện Thái Hòa. Luận văn này nghiên cứu thơ trên điện Thái Hòa ở góc độ thống kê ngôn ngữ học.
Nghiên cứu ngôn ngữ thơ đều xuất phát từ cơ sở các chủ đề được diễn đạt thông qua các hình thức ngôn ngữ, mà trước hết là việc sử dụng từ ngữ. Với tính chất đó, trong luận văn tác giả đã thống kê và miêu tả các tần số sử dụng chữ, từ ngữ nhằm làm nổi bật các chủ đề tư tưởng trong thơ trên điện Thái Hòa. Tác giả nhận định: “Một hệ thống thơ với 764 câu trong 1.078 chữ có tần số xuất hiện như đã phân tích, có sự trùng lặp về câu, chữ ở rất nhiều trường hợp như thế đã nói lên rằng, triều Nguyễn đã dùng thơ như ‘công cụ bổ sung’ cho việc trị nước: để giáo huấn, để bày tỏ lý tưởng, để bày tỏ ước mơ, để khẳng định về triều đại mình. Qua con số thống kê và từ những nhận xét trên cũng có thể chỉ ra rằng, việc sử dụng từ ngữ gắn liền với những chủ đề, ứng với vị trí của nó ở điện Thái Hòa đã tạo nên những giá trị thẩm mỹ, giá trị phong cách” [108, tr.
Đặc biệt, năm 2015, nhằm chuẩn bị cho việc đệ trình hồ sơ đến UNESCO để công nhận hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế là Di sản ký ức thế giới, Trung tâm BTDTCĐ Huế đã tổ chức hội thảo cấp quốc gia về “Bảo tồn và phát huy hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế” vào tháng 5/2015, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Hội thảo này đã nhận được 34 tham luận tham gia ở các nhóm chủ đề như tổng quan về thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế; đánh giá giá trị của thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế; đề xuất phương án bảo tồn và phát huy giá trị. 22 Ở nhóm chủ đề về tổng quan hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, các tác giả Phan Thanh Hải, Lê Thị An Hòa, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Tiến Dũng, Trương Quốc Bình, Hải Trung đã khái quát nên một bức tranh chung về hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Từ góc độ là nhà quản lý trực tiếp di sản, TS.
Phan Thanh Hải cùng nhóm cộng sự ở Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã khảo sát và giới thiệu một cách khá đầy đủ và hệ thống toàn bộ thơ văn hiện còn trên kiến trúc cung đình Huế; xác định nguồn gốc, tính xác thực và nguyên gốc, tính độc đáo cũng như giá trị nhiều mặt của loại hình di sản này. Từ cái nhìn tổng quan về một loại di sản tư liệu độc đáo, các tác giả đã đặt ra kế hoạch quản lý, bảo tồn đối với hệ thống này. Cũng là cách nhìn tổng quan, tác giả Nguyễn Tuấn Cường có bài “Phác họa một số đặc trưng của hệ thống di văn trên kiến trúc cung đình Huế” đã nêu lên những phác thảo về những thuộc tính nghệ thuật trong thư pháp, trong sử dụng điển cố, trong đa dạng thể loại của hệ thống văn tự này. Tác giả nhấn mạnh: “Xét về thể loại, trong hệ thống di văn trên kiến trúc cung đình Huế có nhiều thể loại văn học truyền thống, trong đó thiên về vận văn (văn vần) hơn là tản văn và biền văn (…) Tất cả những thể loại này đều có đặc điểm chung là ngôn ngữ cô đọng, đúc rút, súc tích, lời ít ý nhiều, chính là cảnh giới biểu đạt cao nhất của ngôn ngữ cổ Hán văn” [66, tr.
Ở nhóm chủ đề về đánh giá giá trị của thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, đáng chú ý là có 18 tham luận tập trung vào hai địa hạt: nghiên cứu, đánh giá về những giá trị tiêu biểu trong nội dung của các tác phẩm thi ca chạm khắc trên kiến trúc cung đình Huế và giới thiệu thơ chữ Hán trên một số kiến trúc tiêu biểu. Các đề tài nghiên cứu, đánh giá về giá trị tư tưởng của hệ thống thơ chạm khắc tại điện Thái Hòa (Hoàng Thành) như “Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế - Di sản văn học nghệ thuật sống động” (Phan Tiến Dũng); “Tinh thần tự hào dân tộc và ý thức củng cố nền thống nhất quốc gia qua thơ văn chữ Hán ở điện Thái Hòa” (Nguyễn Minh Tường); “Khát vọng hòa bình của người Việt Nam thể hiện trong các bài thơ chữ Hán ở Hoàng cung Huế” (Nguyễn Tá Nhí). Cùng chung chủ đề này nhưng lại đi sâu chi tiết vào việc bình luận một bài thơ cụ thể khắc tại trung tâm ngôi điện này có các tham luận “Niềm tự hào Đại Nam 23 qua bản ‘Tuyên ngôn’ đặt giữa điện Thái Hòa” (Nguyễn Thị Bích Hải); “Đọc lại bài thơ quan trọng nhất ở điện Thái Hòa” (Phan Đăng); “Về một bài thơ chữ Hán ở điện Thái Hòa” (Phan Anh Dũng). Tác giả Phan Đăng nhận định: “Riêng về lĩnh vực văn chương và ngôn ngữ, những bài thơ khắc trên các ô hộc trong và ngoài điện Thái Hòa là những viên ngọc quý, không chỉ mang ý nghĩa trang trí mà từ đó còn toát lên niềm tự hào về con người, lịch sử, về cảnh thái bình an lạc của đất nước một thời cũng như ước mơ của một dân tộc luôn canh cánh hai nhiệm vụ lớn lao là giữ nước và dựng nước.
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải còn nhấn mạnh: “Những tác phẩm thơ chữ Hán được đặt trang trọng ở điện Thái Hòa cùng với toàn bộ hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế sẽ trở thành di sản ký ức của nhân loại - trước hết là di sản ký ức của Việt Nam, nhắc nhở người Việt nhớ lấy để tự hào, yêu quý và gìn giữ độc lập thống nhất của Tổ quốc; đồng thời cũng nhớ lấy để rút ra bài học, khắc phục những hạn chế để hội nhập và phát triển cùng thời đại” [66, tr. Trong bài viết “Tinh thần tự hào dân tộc và ý thức củng cố nền thống nhất quốc gia qua thơ văn chữ Hán ở điện Thái Hòa”, sau khi phân tích những giá trị nội dung, tư tưởng của thơ trên điện Thái Hòa, tác giả Nguyễn Minh Tường đã nhấn mạnh về giá trị nổi bật của loại hình tư liệu này: “Nói là tư liệu độc đáo, hiếm có, vì lẽ, loại văn thơ chữ Hán được trang trí theo phong cách nhất thi, nhất họa, trên phạm vi nước ta, chỉ thấy ở các kiến trúc cung đình Cố đô Huế. Ở các nơi khác, phong cách trang trí này, dường như không có, và nếu có đi chăng nữa, thì về mặt số lượng cũng không nhiều, đặc biệt về nội dung văn thơ chữ Hán cũng không thể phong phú và sâu sắc như ở đất Cố đô này. Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ: Cần có những biện pháp vừa khoa học, vừa lâu dài để bảo tồn những tư liệu độc đáo này, cho thế hệ tương lai” [66, tr.
Tựu trung, các tham luận thuộc nhóm đề tài này đã chỉ ra rằng, thơ trên điện Thái Hòa là sự khẳng định vị thế của triều Nguyễn trong lịch sử và lòng tự hào về nền văn hiến của Việt Nam, đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam và đánh giá cao những giá trị của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Các đề tài khảo sát, nghiên cứu về các giá trị nội dung, hình thức trang trí, ngôn ngữ của thơ trên kiến trúc cung đình 24 như “Một số giá trị thơ văn trang trí trên di tích cung đình Huế - Điển hình là ở điện Thái Hòa” (Phan Thuận An); “Ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa qua số liệu thống kê” (Nguyễn Phước Hải Trung); “Thơ trên miếu điện” (Vĩnh Cao); “Thơ ký ức sắc màu đất nước - Kinh đô trên cung điện Huế” (Ngô Thời Đôn); “Thơ khắc trang trí tại điện Long An” (Trần Đại Vinh). Đó là các đề tài nêu lên giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật trang trí, ngôn ngữ và hình thức kết cấu của loại hình di sản tư liệu này. Trong bài “Thơ ký ức sắc màu đất nước - Kinh đô trên cung điện Huế”, sau khi phân tích một số nội dung về thiên nhiên gắn với những hình ảnh của đất nước, tác giả Ngô Thời Đôn đã nhận định rằng: “Thơ trên cung điện cố đô Huế không phải là thơ dễ đọc, dễ cảm, nhưng một khi ta đã đọc được, cảm được thì thấy thơ ấy chính là một thứ ký ức chân thực, to lớn, vẹn tuyền về sắc màu đất nước ký gởi trên di tích bằng tinh thần kiến trúc Á Đông mà đậm vẻ Việt Nam.
Hình bóng kinh đô chở che sắc màu đất nước, hình bóng đất nước rung lên độ lớn, chiều sâu của tình cảm nhà vua / người thơ / người dân đối với kinh đô” [66, tr. Trong “Một số giá trị thơ văn trang trí trên di tích cung đình Huế - Điển hình là ở điện Thái Hòa”, tác giả Phan Thuận An đã phân tích nội dung tư tưởng của các bài thơ trên điện Thái Hòa với ba nội dung chủ yếu là tự hào về nền văn hiến của Việt Nam và khẳng định vị thế của triều Nguyễn trong lịch sử nước nhà, ca ngợi vẻ tráng lệ và tính thiêng liêng của Kinh đô Huế, quan tâm đến nghề nông trong xã hội. Tác giả cho rằng: “Giữ vị thế trung tâm quyền lực của cả nước một thời, điện Thái Hòa, so với thơ văn ở các công trình kiến trúc khác, là nơi vua quan nhà Nguyễn gửi gắm những tư tưởng quan trọng nhất trong việc trị quốc an dân” [66, tr. Trong “Thơ trên miếu điện”, tác giả Vĩnh Cao đã tập trung phân tích tính chất của các chủ đề thơ khắc trên miếu điện, giới thiệu một số đặc tính đối ngẫu trong thơ, tác giả nhận định: “Thơ văn trên các điện miếu đề cập đến nhiều vấn đề, hoặc ngợi ca việc điều hành, hoặc đất nước thịnh trị, hoặc mô tả cảnh sắc sông núi, hoa cỏ.
Tùy thuộc là miếu, là điện, là đình, nơi làm việc hoặc nơi thờ tự… mà nội dung thơ sẽ nghiêng nhiều về công năng của cấu trúc.