Mở đầu (Arambha hoặc Prarambha) – Nỗ lực (Prayatra) – Khả năng đạt đến thành công (Prapti – Sambhava) – Sự chắc chắn của thành công (Niyataphalaprapti) – Hoàn thành mục tiêu (Phalayoga). Cốt truyện trong kịch Ấn Độ là quá trình “vận động tới thành công, kết thúc bằng hạnh phúc, thành công” [58, tr. Đó là quá trình nhân vật thể hiện những khát khao, lý tưởng, mục tiêu tinh thần tốt đẹp (Dharma), hướng đến sự hòa điệu tinh thần (Samvidvisranti) tuyệt đối. Theo Bharata thì bản thân kịch cũng thực hiện mục đích tôn giáo, là quá trình con người loại bỏ phần Karma tội lỗi để hướng đến sự giải thoát (Moksha).
Rasa (Cảm thức) là linh hồn của kịch, là “kinh nghiệm cuộc sống được tái tạo bằng nghệ thuật” [87, tr. Quá trình thưởng thức nghệ thuật đồng thời cũng là quá trình người xem thực hiện những nếm trải mĩ học, từ đó khơi gợi sự xót thương, xúc động trước nỗi đau, thán phục trước cái cao cả và căm phẫn cái xấu xa, độc ác 19 và làm phong phú cảm xúc con người, thoát khỏi những nhỏ nhen toan tính tầm thường. Vì vậy, Rasa được người Ấn Độ xem như là trải nghiệm trạng thái cận – giải thoát (Moksha). SAMVIDVISRANTI (HÒA ĐIỆU TINH THẦN) RASA (CẢM THỨC) BHAVA (XÚC CẢM) AVASTHAS (TRẠNG THÁI) KARMA (HÀNH ĐỘNG) NATYA (MÚA) – KAVYA (THƠ) – NATAKA (KỊCH) (Kết hợp Ca – Vũ – Nhạc) (Với cốt truyện) Sơ đồ: Rasa (Cảm thức), linh hồn của kịch Ấn Độ [58, tr.118] Không như kịch cổ điển phương Tây, sân khấu Ấn Độ không quan tâm đến luật tam duy nhất.
Chỉ có hành động là được chi phối bởi một cảm thức (Rasa) chủ đạo, và thường đó là cảm thức yêu đương. Không có bi kịch như kịch cổ điển Hy Lạp vì sân khấu Ấn Độ muốn tránh cho khán giả khỏi mọi cảm thức ghê sợ, khủng khiếp. Trong kịch Ấn Độ có tám Rasa, trong đó có năm Rasa tích cực là Srngara (Ái tình), Hasya (Hài hước), Karuna (Cảm thương), Adbhuta (Ngạc nhiên, thán phục), Vira (Hào hùng) và ba Rasa tiêu cực là Raudra (Giận dữ), Bhayanaka (Khủng khiếp) – Bidhatsa (Ghê tởm). Kịch Ấn Độ, cũng như các loại hình văn học nghệ thuật khác, đều chịu sự chi phối của mĩ học Bàlamôn, phải thể hiện cho được một số phạm trù như sau: 20 Thứ nhất: tư tưởng Varna (Đẳng cấp).
Nhân vật phải vượt qua mọi thử thách để hoàn thành bổn phận của đẳng cấp mình: Đẳng cấp Brahmin, đẳng cấp Kshatrya, đẳng cấp Vaisya, đẳng cấp Sudra. Thứ hai: triết lý Karma (Nghiệp báo) – Samsara (Luân hồi). Với người Ấn Độ, cuộc sống vận động theo vòng luân hồi, và con người tự nhận lấy kết quả do chính mình gây ra. Nếu ai gieo nhân nào, người đó ắt gặt quả nấy, ai gieo niềm vui sẽ gặt về niềm vui, ai gieo đau khổ thì sẽ thu về khổ đau.
Không chỉ trong kiếp này, mà sự vận động ấy sẽ chuyển qua các kiếp sống khác, và mãi mãi con người sẽ chìm trong vòng nghiệp báo ấy. Thứ ba: quan niệm Maya (Ảo ảnh). Đây là quan niệm về cuộc đời của người Ấn. Cuộc sống hiện tại không phải là mục tiêu trước mắt họ nhắm đến, mà thực chất họ luôn hướng về một cuộc sống khác hoàn toàn cuộc sống nơi trần thế.
Cuộc sống thực tại với họ chỉ là tạm bợ, là phù du, sắc sắc (có) rồi lại không không (mất). Điều mà người Ấn hướng đến là cõi niết bàn bất biến, vĩnh hằng. Kết thúc trong kịch Ấn Độ bao giờ cũng có hậu, không có bi kịch. Điều này xuất phát từ triết học Ấn Độ.
Người Ấn luôn thống nhất những cặp phạm trù đối lập, không có gì là bất biến, tất cả đều nằm trong sự luân chuyển giữa các cặp phạm trù Được – Mất, Hạnh phúc - Đau khổ, Thành công – Thất bại, Đẹp – Xấu, Ánh sáng – Bóng tối… Người Ấn Độ xem nghệ thuật nói chung và kịch nói riêng không đơn thuần là để giải trí mà còn là cầu nối để giao cảm với thần linh, tìm đến sự hòa hợp tinh thần. Đó là hành trình của các Tiểu ngã trên con đường kiếm tìm và hòa hợp với cái Đại ngã (Bản thể vũ trụ). Đây chính là mục đích tinh thần cao cả nhất, theo quan điểm của Hindu giáo. Kịch gia Rabindranath Tagore và thành tựu ở thể loại kịch 1.
Bối cảnh xã hội Ấn Độ từ thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX. Rabindranath Tagore sinh ra ở tỉnh Bengal, một tỉnh giàu có vào bậc nhất của Ấn Độ. Đây là nơi phát sinh nhiều cuộc biến động lịch sử sâu sắc. Đồng thời là nơi mà ngôn ngữ đã sớm phát triển, làm nền cho truyền thống nhân đạo chủ nghĩa 21 rực rỡ nhất.
Tagore chào đời đương lúc phong trào giải phóng dân tộc bắt đầu sôi nổi và văn học Bengal thực sự bước vào thời kì phát triển mới. Từ cuối thế kỉ XVIII trở đi, dưới sự thống trị của thực dân Anh, quan hệ tư bản chủ nghĩa đã sớm phát triển ở Bengal. Trong hoàn cảnh đó, sự xuất hiện của tầng lớp trí thức dân tộc, đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản đang lên, đã nhận thấy rõ bộ mặt nham hiểm của thực dân Anh và bất bình với tình trạng nô lệ ở Ấn Độ. Đại đa số họ là những trí thức mang trong mình dòng máu thấm nhuần nền văn hóa cổ Ấn Độ, đồng thời được tiếp xúc với những nền văn học ưu tú của nhân loại, đặc biệt là của Anh, Pháp, Nga.
Những con người ưu tú này muốn khôi phục lại nền văn hóa cổ vàng son của dân tộc mình, đồng thời muốn đem văn hóa phương Tây hòa vào dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc với mong ước dùng văn học làm công cụ để giải phóng dân tộc. Những cuộc đấu tranh ấy ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhất là từ sau cuộc khởi nghĩa lớn vào năm 1857 – 1859. Tuy bị thực dân Anh đàn áp dã man, nhưng nó đã đánh dấu sự suy tàn của chế độ phong kiến, là đòn tấn công trực diện vào bọn thực dân; đồng thời nung nấu ý chí, thức tỉnh tinh thần dân tộc, tinh thần đoàn kết của người dân Ấn Độ. Đặc biệt vào những năm cuối thế kỉ XIX, tổ chức “Đại hội Quốc dân” (1885) đã đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp tư sản Ấn Độ, phong trào yêu nước chống thực dân, nhất là những năm đầu thế kỉ XX ngày càng trở nên sôi nổi.
Trên bối cảnh xã hội ấy, nền văn học Bengal phát triển mạnh mẽ, làm đòn bẩy cho các dòng văn học khác của Ấn Độ. Cùng với nghề in, xuất bản và báo chí, các thể loại văn học trở nên phong phú, đa dạng. Trước yêu cầu văn học cần phản ánh và biểu hiện đầy đủ sinh hoạt xã hội phức tạp, thơ ca Ấn Độ không thể làm hết nhiệm vụ cao cả ấy. Do đó, một số thể loại khác như kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết,… ra đời.
Ngôn ngữ Bengal làm công việc tiên phong cho các ngôn ngữ khác trong toàn Ấn Độ, góp phần làm cho bộ mặt văn học thêm sáng sủa, có chiều sâu. Đề tài của văn học lúc này vẫn tập trung khai thác phần nhiều về thần thoại lịch sử với văn phong lãng mạn, trừu tượng, thậm chí thần bí. Chủ đề đã hướng dần vào 22 cuộc sống hiện tại, vừa phát huy tính truyền thống nhân đạo chủ nghĩa, vừa tiếp thu được tính chất duy lý phản kháng của châu Âu gắn chặt với những đòi hỏi mới của thời đại: cải cách tôn giáo, xã hội. Sang những nằm đầu thế kỉ XX, cùng với phong trào “Tự chủ”, phong trào đấu tranh chống thực dân Anh chia sẻ mảnh đất Bengal (1905) và phong trào cách mạng do Bal Gangadhar Tilak cầm đầu (1908), văn học đã chuyển sang đấu tranh đòi độc lập và dân chủ.
Sau Thế chiến thứ nhất, tính chất này càng trở nên mạnh mẽ với phong trào của Gandhi, đặc biệt do ảnh hưởng của cuộc cách mạng tháng Mười Nga, với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân và tư tưởng Macxit trong nước. Từ 1930, các nhà văn đã chuyển hướng sáng tác và tiến tới thành lập tổ chức “Hội các nhà văn tiến bộ Ấn Độ” (1936), đấu tranh chống chủ nghĩa Phát xít cho tới thời kì cao trào đấu tranh giành độc lập (1943-1947). Đó là cả một quá trình đấu tranh gay gắt giữa cái mới và cái cũ, giữa cải cách và bảo thủ, giữa duy lý và duy linh, giữa cách mạng và nô dịch. Mỗi giai đoạn khác nhau, văn học có những biểu hiện, khuynh hướng khác nhau, nhưng tựu chung lại là tinh thần đoàn kết đấu tranh chống đế quốc ngày càng mạnh mẽ của nhân dân Ấn Độ.
Trong bối cảnh xã hội ấy, quê hương Bengal chào đón một “ngôi sao sáng của Ấn Độ Phục hưng”, R. Đây chính là người con tiêu biểu nhất cho tinh thần đoàn kết thống nhất và phục hưng của đất nước Ấn Độ ở lĩnh vực văn học trong tương lai. Cuộc đời sáng tác của R. Tagore gắn liền với lý tưởng giải phóng con người.
Đúng như nhà thơ Hindi Nirana đã nói: “Tagore hòa hợp với ngôn ngữ và tâm hồn Bengal như hoa sen nở thơm ngát trong ánh bình minh” [4, tr. “Chẳng có gì quá đáng khi nói rằng Rabindranath Tagore là nhà thơ cũng như nhà văn vĩ đại nhất trong suốt ba ngàn năm hoạt động văn học của Ấn Độ” [53, tr. Hơn cả lời nhận xét của Jun Ohrui, R. Tagore vượt lên khỏi vị trí một đại thi hào Ấn Độ.
Ông còn là nhạc sĩ, họa sĩ, nhà hoạt động sân khấu, triết gia,… Từ những năm đầu thế kỉ XX, độc giả Việt Nam đã biết đến Tagore và rất yêu quý ông. Những người yêu văn học không ai là không nhắc tới Tagore, tới tập 23 Thơ Dâng, Mùa hái quả, Tôn giáo Con người. Đặc biệt, vào tháng 6 - 1929, trên đường từ Nhật Bản về Ấn Độ, Tagore đã ghé thăm Sài Gòn và để lại nhiều kỉ niệm đẹp cho giới văn nghệ sĩ báo chí ở Việt Nam. Tagore đã mặc bộ “quốc phục” mà những người thợ may đã cố gắng hoàn thành trong ba giờ để nhà thơ có thể mặc đi dạo quanh Sài Gòn.
Điều đó làm chúng ta càng yêu quý và nể trọng một nhân cách vĩ đại, một người luôn khao khát tìm kiếm, gắn kết mọi người lại trong “ngôi nhà chung của thế giới”. Nhắc đến Tagore, người dân Bengal thường nói đến khái niệm “văn hóa Tagore” để chỉ năng lực sáng tạo phong phú, mang tầm vóc sánh ngang với một nền văn hóa vĩ đại. Tám mươi năm cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào Rabindranath Tagore đã hoá thành huyền thoại, nói như Mahatma Gandhi: “Tagore là người lính canh vĩ đại của nhân gian”.