Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Mối quan hệ của văn học và điện ảnh Văn học và điện ảnh được xem là hai loại hình nghệ thuật của nhân loại. Theo Max Desoir (1867 – 1947), ông đã phát hiện ra: thời kì “Hậu Aristotle”, người ta đã chia ra thành sáu loại hình nghệ thuật và căn cứ vào tính chất của chúng để phân chia thành hai nhóm: nhóm nghệ thuật tĩnh (kiến trúc, điêu khắc, hội họa) và nhóm nghệ thuật động (âm nhạc, thơ ca, múa).
Điện ảnh được xem là loại hình “nghệ thuật thứ bảy” (nhận định của Ricciotto Canudo) là sự tổng hòa của hai nhóm nghệ thuật trên. Tuy có nhiều loại hình nghệ thuật nhưng giữa chúng luôn có sự giao thoa và có những điểm chung nhất định với nhau. Văn học và điện ảnh có mối quan hệ mật thiết, gắn kết và không thể tách rời nhau. Chúng tạo ra nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển cho nhau.
Mối quan hệ này chủ yếu dựa trên ba tính chất cơ bản: tính tổng hợp, tính tương tác và tính tự sự. Tính tổng hợp của văn học và điện ảnh Cả văn học lẫn điện ảnh đều mang tính chất tổng hợp. Tính chất này được nhắc đến khá nhiều thông qua các cuốn sách, các bài luận văn: điển hình như qua Luận văn “Yếu tố điện ảnh trong tiểu thuyết ‘Những người đàn bà tắm’ của Thiết Ngưng” của tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết năm 2014 và nhiều bài báo khác. Văn học và điện ảnh có sự gần gũi với nhau: đều là loại hình nghệ thuật tổng hợp nhiều yếu tố khác nhưng vẫn tạo ra nét đặc trưng riêng cho chính mình.
Tính tổng hợp gián tiếp của văn học bao gồm tất cả những hình ảnh, âm thanh, màu sắc… được thể hiện thông qua phương diện ngôn từ. Đó chính là nét đặc trưng của văn học, được dùng để thể hiện quan điểm, suy ngẫm của tác giả về con người, về thời đại. Đó thường là những đúc kết từ kinh nghiệm sống, quan điểm thời đại mà họ chịu ảnh hưởng. Mỗi người đều có những nét riêng biệt độc đáo để khẳng định tên tuổi, vị thế của mình đối với các tác giả cùng thời.
Nhắc đến tính tổng hợp của văn học, nhà nghiên cứu Vissarion Belinsky từng đưa ra quan điểm: “Thơ văn là loại hình nghệ thuật cao cấp nhất… Thơ văn thể hiện trong lời nói tự do của con người, mà lời nói vừa là âm thanh, vừa 12 là bức tranh, vừa là khái niệm. Do vậy, thơ ca mang trong mình tất cả các yếu tố của các nghệ thuật khác, nó như đồng thời sử dụng không tách rời phương thức của tất cả các loại hình nghệ thuật riêng biệt. Thơ văn chính là toàn bộ nghệ thuật.”1 Theo ông, thơ văn là phương thức tổng hòa các loại hình nghệ thuật theo một phương thức riêng biệt, đó là câu chữ. Xuất hiện từ sớm, văn học đã gói gọn đường nét, màu sắc, hình khối, nhịp điệu, hình ảnh… để tạo dựng nên thế giới sống động qua tâm tưởng người đọc.
Sau khi tiếp nhận câu từ, người đọc không thể trực quan tiếp nhận các sự vật, sự kiện trong tác phẩm mà họ chủ yếu vận dụng những kinh nghiệm vốn có để tiến hành kiến giải tác phẩm. Cách thức và phương tiện đầu tiên trong việc hiểu tác phẩm được sản sinh ra thông qua trí tưởng tượng, sự liên tưởng trong tư duy, trí óc của họ. Tác phẩm “Mùi hương” của tác giả Patrick Suskind đã làm rõ tính chất tổng hợp gián tiếp của văn học. Tác phẩm kể về một kẻ lập dị với tên gọi Jean-Baptiste Grenouille với khả năng thiên tài và “khát vọng duy nhất của gã giới hạn trong lĩnh vực sáng tạo ra một vương quốc phù du của hương thơm.”2 Xuyên suốt tác phẩm, khung cảnh đất nước Pháp những năm đầu thế kỷ XVIII hiện lên hết sức chân thực: một thứ mùi hôi bao trùm cả đất nước, một thứ mùi của lịch sử tái hiện nên một Paris với đầy những thành phần hôi thối của thời đại.
Để có thể hoàn thành mong muốn của mình, tên Grenouille không từ bỏ thủ đoạn nào (thậm chí là giết 25 cô gái trẻ) để có thể tạo ra thứ mùi “con người” mà hắn chưa từng có. Từng phân cảnh giết những con vật (chuột, mèo) và đến cả những cô gái trẻ đều hiện lên trong tâm trí người đọc hết sức rùng rợn. Từng cảnh, từng sự kiện không xuất hiện thông qua các giác quan của người đọc mà gây dựng qua những liên tưởng, hình dung cùng vốn kinh nghiệm vốn có trong tâm trí họ mà hình thành. Giai đoạn lịch sử của một đất nước, một thời đại được tạo dựng thông qua ngôn từ của tác giả Patrick Suskind hiện lên trước mắt người đọc ở khả năng liên tưởng và hình dung đầy tàn nhẫn những cũng vô cùng sinh động.
1 Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, tr.91 2 Patrick Suskind (Lê Chu Cầu dịch) (2018), Mùi hương, NXB Văn học, tr.11 13 Ngược lại, điện ảnh lại mang tính tổng hợp trực tiếp. Nó tận dụng tối đa các yếu tố: hình ảnh, đường nét, âm thanh,… và tác động trực tiếp đến người xem thông qua các giác quan: thị giác, thính giác,… để khơi gợi suy tư, cảm xúc nơi họ. Trong luận văn “Sự chuyển thể từ truyện ngắn sang kịch bản điện ảnh trong một số tác phẩm của nhà văn Võ Thị Hảo” ở trang 17 của tác giả Bùi Thị Như Hoa đã đóng góp ý kiến của một nhà nghiên cứu: “Điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp, mang đến cho hàng triệu người xem ngôn từ của nhà văn, tranh của hoạ sĩ, diễn xuất của diễn viên, giai điệu của nhạc sĩ… Đây là nghệ thuật liên kết hội hoạ và kiến trúc, âm nhạc và văn học. Phim có âm thanh và màu sắc, khổ rộng và lập thể - Đây quả thực là một nghệ thuật tổng hợp”3 Cũng như văn học, điện ảnh có khả năng tổng hòa sáu loại hình nghệ thuật và hiện thực hóa nó lên màn ảnh rộng.
Từng cảnh quay, khung hình trong điện ảnh đều có thể trực quan tiếp nhận: âm thanh của nhạc khí, màu sắc – đường nét của điêu khắc hay hội họa… Chúng kết hợp và tái sinh thành một phiên bản mới đầy độc đáo và mới mẻ. Khác với văn học, không dùng từ ngữ để miêu tả tâm lý nhân vật, đạo diễn sử dụng cách diễn xuất (ánh mắt, lời nói, cử chỉ,…) của diễn viên, âm thanh, ánh sáng,… để truyền tải ý tưởng của mình. Mỗi người với vốn kinh nghiệm khác nhau, có thể tạo ra hàng loạt các phiên bản trong đầu óc mình về một tác phẩm văn học. Còn ở điện ảnh, trí tưởng tượng đa dạng, phong phú này được hiện thực hóa và phô bày trực tiếp lên màn ảnh rộng, tác động lên các giác quan của người xem (thị giác, thính giác…).
Không chỉ thế, đạo diễn còn trực tiếp thể hiện ý kiến, suy nghĩ cá nhân thông qua việc sáng tạo để tạo nên một tác phẩm mới. Một bộ phim được đánh giá cao khi thể hiện rõ những giá trị tốt đẹp của con người, khơi gợi cảm xúc sâu thẳm trong lòng người đọc. Là sản phẩm cải biên “Mùi hương” của tác giả Patrick Suskind, bản điện ảnh được các nhà làm phim lồng ghép từng cảnh quay, trang phục cho diễn viên, ánh sáng… một cách hài hòa. Nhiều cảnh quay của phố ở Paris ngập tràn những gam màu 3 Nguyễn Văn Đạo, Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng, Nxb Văn học thông tin, 1999,tr.17 14 nóng tạo cho người xem sự oi bức, chật hẹp của con người trong giai đoạn khốn khó này của nước Pháp.
Góc máy phóng to, thu nhỏ, nhanh và chậm đan xen, song hành bên cạnh hình ảnh chiếc mũi của nhân vật Grenouille tạo cho người xem nhiều trải nghiệm thú vị. Cách nhân vật đánh hơi thiếu nữ thứ 25 từ chiếc xe chạy ngang qua hay từ vùng đất xa xôi mà cha cô muốn giấu cô khỏi hắn càng làm tăng tiết tấu gay cấn, sự nguy hiểm của hắn lên cao. Được đánh giá không cao (6/10), bộ phim bao trùm những cảnh quay ngột ngạt, bí bách và hiện lên đó là một kẻ giết người không mùi hương, cô đơn cùng cực. Hắn khốn khổ đi tìm mùi hương cho riêng mình như cách đến đánh động, sai khiến thế giới và khát khao được sống như mọi người.
Tóm lại, cả văn học và điện ảnh đều là các loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp từ cụ thể đến khái quát. Tính tổng hợp của chúng khẳng định lại giá trị, sự giao thoa giữa các loại hình nghệ thuật trong tiến trình phát triển của nhân loại. Tính tự sự của văn học và điện ảnh Các lý thuyết về tự sự học không chỉ dừng lại ở văn học mà còn ở nhiều loại hình nghệ thuật khác như (sân khấu, điêu khắc…) mà rõ nét nhất ở điện ảnh. Xuất hiện từ khá sớm, văn học sử dụng hình thức tự sự để khắc họa những suy tư, trăn trở và ước mơ của con người về thời đại.
Không cần dùng cách thức liên tưởng, hình dung thông qua ngôn từ, điện ảnh “hiện thực hóa” cái nhìn chủ quan của tác giả văn học lên màn ảnh rộng, tiếp cận trực tiếp đến người xem. Trong văn học, văn bản tự sự được xây dựng từ những sự kiện trong cuộc đời nhân vật. Tác giả Huỳnh Như Phương đã từng nhắc đến: “Đặc điểm của văn bản tự sự được xác định bởi tính sự kiện. Văn bản được xây dựng từ một trường hợp, một biến cố và được đan kết bởi những sự kiện xã hội, lịch sử.”4 Chất tự sự trong văn xuôi thể hiện một chuỗi sự kiện hoặc một sự kiện then chốt trong cuộc đời nhân vật mà tác giả là người đứng phía sau để khơi gợi người đọc đi từ sự kiện này sang sự kiện khác và đến mục đích cuối cùng mà tác giả muốn gửi gắm.
Dù là vấn đề xấu hay tốt, tác giả luôn hướng người đọc đến những quan điểm, suy nghĩ về con người, về thời đại. 4 Huỳnh Như Phương (2017), Tác phẩm và thể loại văn học, NXB DDHQG TPHCM, tr.60 15 Tính tự sự cũng được nhiều nhà làm phim vận dụng và nhắc đến qua ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Điển hình là nhà nghiên cứu Jonathan Culler: “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật.”5 Đồng thời, luận văn của tác giả Ngô Thị Hồng Vân cũng khẳng định: “Tự sự điện ảnh ra đời những năm 60 – 70 của thế kỉ XX và phát triển cho đến ngày nay.