Chương 1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH LÀO CAI 1. Tổng quan về tỉnh Lào Cai 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Tỉnh Lào Cai có 182,086 km đường biên giới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với điểm cực Bắc thuộc xã Pha Long, huyện Mường Khương; phía Nam giáp tỉnh Yên Bái với điểm cực Nam ở xã Nậm Tha, huyện Văn Bàn; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang với điểm cực Đông là đỉnh PonTatJian; phía Tây giáp tỉnh Lai Châu với điểm cực Tây ở xã Y Tý, huyện Bát Xát.
Với vị trí cửa ngõ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, từ xa xưa trong lịch sử, Lào Cai đã là mảnh đất “phên dậu” của đất nước. Đặc điểm này đã tạo nên cho Lào Cai không chỉ có vị trí địa kinh tế, địa chính trị quan trọng mà còn là mảnh đất giàu giá trị lịch sử văn hóa. Địa hình Lào Cai rất phức tạp, có sự phân tầng độ cao lớn, hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm về phía đông và phía tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình giữa hai dãy núi này và một vùng về phía tây dãy Hoàng Liên Sơn. Điểm cao nhất của tỉnh là đỉnh Fansipan cao 3.143m so với mực nước biển.
Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai, Bảo Thắng, Bảo Yên, và phần phía đông huyện Văn Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn, địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng. Khí hậu Lào Cai mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa đông lạnh, biến động mạnh và phân hóa đa dạng. Do hệ quả của chế độ gió mùa, khí hậu ở Lào Cai phân hóa thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Lượng mưa tại Lào Cai phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian.
Thời gian không mưa diễn ra vào mùa đông, ngược lại mưa dài ngày thường xuất hiện vào mùa hè. Hệ thống sông, suối phân bố khá đều với hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy chảy qua địa bàn tỉnh. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có hàng nghìn dòng chảy, trong đó có 107 sông, suối dài từ 10km trở lên. Hệ thống sông, suối dày với địa hình dốc tạo ra lợi thế cho Lào Cai trong phát triển thủy điện vừa và nhỏ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Tài nguyên đất của tỉnh rất đa dạng do địa hình phức tạp. Trong phạm vi địa giới của tỉnh có 30 loại đất được chia làm 10 nhóm chính như đất phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ, đất mùn alit trên núi,… Lào Cai có 278.907ha rừng, chiếm 43,87% tổng diện tích tự nhiên. Thảm thực vật phong phú của Lào Cai không chỉ có giá trị khoa học mà còn có giá trị kinh tế cao về lâm sản. Diện tích rừng và trữ lượng gỗ rừng tự nhiên khá lớn cùng với thảm thực vật phong phú, sự đa dạng của các loài động vật là điều kiện thuận lợi để Lào Cai phát triển kinh tế lâm nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp khai thác, chế biến và du lịch.
Khoáng sản của Lào Cai khá đa dạng, trữ lượng lớn và có tính đại diện về chủng loại cả nước. Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được 150 mỏ và điểm mỏ với trên 30 loại khoáng sản, trong đó có một số mỏ khoáng sản đã được thăm dò đánh giá trữ lượng, chất lượng như mỏ Apatit Cam Đường với trữ lượng 2,5 tỷ tấn, mỏ sắt Quý Xa với trữ lượng 124 triệu tấn, mỏ đồng Sin Quyền trữ lượng 53 triệu tấn, mỏ môlip đen Ô Quý Hồ với trữ lượng 15,4 nghìn tấn. Những thay đổi địa giới hành chính tỉnh Lào Cai Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang “.Hưng Hóa và Tuyên Quang xưa là bộ Tân Hưng” [24, tr. Thời Âu Lạc, vùng phía đông và phía nam Lào Cai thuộc bộ lạc Tây Vu, còn một phần đất phía tây và phía bắc Lào Cai hiện nay thuộc phạm vi của các bộ lạc nhỏ hơn không chịu thuần phục Lạc Việt.
Thời Bắc thuộc nhà Đường, vùng đất Lào Cai thuộc châu Đan Đường (Cam Đường) và Chu Quý (Văn Bàn). Thời kỳ phong kiến tự chủ, Lào Cai thuộc châu Quy Hóa. Triều Lê thế kỷ XV đã đổi lộ làm phủ và đổi trấn làm châu, khi đó lộ Quy Hóa đổi thành phủ Quang Hóa, huyện Văn Bàn, huyện Thủy Vĩ trở thành châu Văn Bàn, châu Thủy Vĩ trực thuộc phủ Quang Hóa, thừa tuyên Hưng Hóa. Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vĩ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên, phủ Quy Hoá.
Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được hình thành. Sau khi đánh chiếm Lào Cai (3-1886) và hoàn thành công cuộc bình định, thực dân Pháp cai quản địa hạt Lào Cai theo chế độ quân sự. Ngày 7-l-1899, đạo quan binh IV được thành lập bao gồm Tiểu quân khu Yên Bái và Tiểu quân khu Lào Cai (Lào Cai là đạo lỵ, thủ phủ của đạo quan binh IV). Để dễ bề kiểm soát và tiến hành khai thác bóc lột, thực dân Pháp đã chia lại khu vực hành chính và thay đổi chế độ cai trị.
Ngày 12-7-1907, toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ đạo quan binh IV Lào Cai, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c chuyển từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự, thành lập tỉnh Lào Cai. Từ đây địa danh tỉnh Lào Cai được xác định trên bản đồ Việt Nam. Năm 1907, tỉnh dân sự Lào Cai được thành lập, phần đất của châu Thuỷ Vĩ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vĩ. Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn.
Phần đất của châu Thuỷ Vĩ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng. Đến cuối những năm 1910, đầu những năm 1920, trong thành phần tỉnh Lào Cai mới xuất hiện các đại lý Mường Khương, Pa Kha (Bắc Hà), Bát Xát, Phong Thổ và đặc khu Sa Pa. Sau khi tỉnh Lào Cai được giải phóng lần thứ nhất (11-1946), chính quyền của ta chia Lào Cai thành 7 huyện (Bắc Hà, Mường Khương, Bản Lầu, Bảo Thắng, Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ) và thị xã Lào Cai. Ngày 7-5-1955, Khu tự trị Thái Mèo được thành lập, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai chuyển sang Khu tự trị Thái Mèo, sau này thuộc tỉnh Lai Châu.
Ngày 27-3-1975, tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V đã nghị quyết hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ thành tỉnh mới lấy tên là Hoàng Liên Sơn. Ngày 17-4-1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường thành thị xã Lào Cai trực thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn. Ngày 12-8-1991, Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 1-10-1991 tỉnh Lào Cai được tái lập trên cơ sở vùng đất Lào Cai (cũ) và bổ sung thêm ba huyện: Bảo Yên, Văn Bàn (thuộc Yên Bái cũ), Than Uyên (thuộc Nghĩa Lộ cũ) bao gồm 8 huyện, 2 thị xã.
Khi tái lập, tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 8.044 km2, gồm 8 huyện với 180 xã, phường, thị trấn, tỉnh lị là thị xã Lào Cai. Tháng 8 năm 2000, huyện Bắc Hà được tách thành 2 huyện Bắc Hà và Si Ma Cai, đến tháng 1 năm 2002 thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường sáp nhập thành thị xã Lào Cai. Tháng 1 năm 2004, huyện Than Uyên chuyển về tỉnh Lai Châu. Ngày 30-11-2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai.
Sự ra đời của thành phố Lào Cai đánh dấu bước phát triển vượt bậc về mọi mặt của thành phố trong đó có văn hóa, thể thao và du lịch. Đến năm 2018, tỉnh Lào Cai gồm thành phố Lào Cai và 8 huyện: Bảo Thắng, Bảo Yên, Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Sa Pa, Bát Xát, Văn Bàn. Diện tích tự nhiên 6. Địa danh và đơn vị hành chính của tỉnh Lào Cai có nhiều thay đổi trước những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c biến động của lịch sử.
Sự thay đổi này là do nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng cả nước cũng như nhiệm vụ chính trị của địa phương. Điều đó đã có tác động nhất định đến quá trình chuyển biến về mọi mặt của tỉnh qua các thời kỳ, trong đó, có sự biến đổi của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Điều kiện kinh tế - xã hội Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp là chủ yếu, cơ sở hạ tầng thấp kém, tỉnh Lào Cai đã đạt tốc độ tăng trưởng về kinh tế khá cao và liên tục, cao hơn so với các tỉnh khác và cả nước [8]. Giai đoạn 1991-1995, tăng trưởng kinh tế trung bình của Lào Cai đạt 11,8%/năm (cả nước đạt 8,2%/năm), thể hiện bước chuyển đầu tiên của nền kinh tế sang cơ chế thị trường.
Giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Lào Cai giảm do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ của châu Á. Nền kinh tế Lào Cai tuy không chịu tác động trực tiếp, nhưng sự cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, thu hút nguồn vốn từ bên ngoài giảm nên đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế của Lào Cai, tăng trưởng bình quân đạt 5,8%/năm. Tính bình quân trong 10 năm (1991-2000), tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 9,0%/năm (cả nước đạt 7,6%). Những kết quả trên khẳng định bước chuyển biến đầu tiên, quan trọng của nền kinh tế tỉnh Lào Cai trong những năm đầu tái lập.
Trong 10 năm tiếp theo (2001-2011), tốc độ tăng trưởng kinh tế của Lào Cai trung bình 12,5%/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2001 đến năm 2011 luôn ở mức 2 chữ số, cao hơn những năm đầu tái lập tỉnh, cao hơn so với mức tăng của cả nước và nhiều địa phương khác. Kết quả đó khẳng định đường lối đổi mới của Đảng đã được vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tình hình tỉnh Lào Cai.