Chương 1: Giới thiệu Chương này giới thiệu tổng quan lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Mục tiêu của chương này giải thích các khái niệm, đồng thời giới thiệu những lý thuyết nền tảng liên quan đến nghiên cứu như lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, mô hình nghiên cứu đề nghị. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 4 Chương này giới thiệu đối tượng nghiên cứu, trình bày các vấn đề liên quan đến phương pháp nghiên cứu, cách thu thập số liệu, xác định cỡ mẫu, mô hình nghiên cứu chính thức và quy trình nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Sử dụng phần mềm Stata 13,SPSS để xử lý số liệu thu thập được.
Trình bày các kết quả nghiên cứu thông qua việc phân tích và kiểm tra mô hình nghiên cứu trước cũng như mô tả mẫu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu được tìm ra, một số gợi ý về chính sách. Chỉ ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài (nếu có). 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Năng suất lao động 2. Khái niệm Năng suất lao động là đại lượng đặc trưng cho sản lượng thực tế trong một đơn vị thời gian, là sản lượng đạt được thông qua các ca làm việc trong ngày, trong tuần, khi các phương tiện phục vụ cho sản xuất không đổi. Ramsay (1973) định nghĩa năng suất lao động gắn với khái niệm về hiệu quả trong kinh tế học, nghĩa là việc sử dụng tốt nhất những thứ có được để có kết quả mong muốn theo yêu cầu của xã hội thông qua ba vấn đề cơ bản nhất là sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Theo khái niệm tác giả đưa ra cho thấy năng suất lao động và chất lượng là các yếu tố quan trọng trong hoạt động sản xuất để gia tăng lợi nhuận cho tổ chức sản xuất.
Đồng thời, việc cải tiến năng suất và chất lượng cũng cần phải gắn liền với các kiến thức như: khoa học công nghệ, hành vi con người, tính sáng tạo… Ngoài ra còn các yếu tố khác như niềm tin với hệ thống, những xung đột hay giá trị đối với hệ thống… Adam (1999) cho rằng năng suất là thước đo đầu ra trên các yếu tố đầu vào và dựa vào nguyên tắc cơ bản của năng suất đó là tối đa hóa đầu ra và tối thiểu hóa đầu vào. Năng suất còn được hiểu là số lượng đầu ra trên một đơn vị thời gian hay thời gian hao phí để sản xuất được một đơn vị sản phẩm. Starbuck (1992), năng suất là yếu tố quyết định cho thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào để phát triển mạnh trong quá trình cạnh tranh, do đó các doanh ghiệp cần phải có khả năng để sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất các nguồn lực khan hiếm sẵn có. Các biện pháp đo lường số lượng kết quả đầu ra (sản phẩm dịch vụ) với sản xuất các yếu tố đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất.
Năng suất lao động có thể tính bằng cách chia số lượng sản phẩm được sản xuất cho số giờ làm việc được sử dụng trong sản xuất. Điều này có thể được sử dụng như một chỉ số của mức 6 độ năng suất hay dùng để so sánh năng suất giữa các nhà máy khác nhau trong khoảng thời gian khác nhau. Hill (1993) định nghĩa năng suất lao động là tỷ số giữa số sản phẩm được sản xuất và nguồn lực cần thiết để sản xuất nó, và năng suất đo lường mối quan hệ giữa đầu ra như sản phẩm, dịch vụ và các đầu vào bao gồm lao động, vốn, nguyên vật liệu và các đầu vào khác. Tổ chức năng suất châu Á (1995) đã đưa ra cách tiếp cận mới là việc giảm thiểu lãng phí trong mọi hình thức – giảm lãng phí chứ không phải giảm đầu vào.
Sự lãng phí này là việc sử dụng nguồn lực không có hiệu quả cho việc sản xuất hay phù hợp với nhu cầu. Năng suất là cách làm việc thông minh hơn, nguồn nhân lực và khả năng tư duy cao của con người có vai trò quan trọng nhất cho việc năng suất được nâng cao, và hành động là kết quả của quá trình tư duy – giá trị gia tăng thêm từ việc lao động có chất lượng cao. Theo Trần Xuân Cầu (2012), năng suất lao động là hiệu quả hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian. Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Nói đến năng suất lao động là nói đến kết quả hoạt động sản xuất của con người trong một đơn vị thời gian nhất định. Cách tính năng suất lao động Theo Owyong (2001), năng suất lao động tăng lên khi: phế phẩm và các hao phí hữu hình không cần thiết giảm đi; chu kỳ sản xuất: giảm thiểu thời gian chờ đợi giữa các công đoạn, chu kỳ hay thời gian chuẩn bị cho quy trình, thời gian chuyển đổi mẫu mã, quy cách của sản phẩm sẽ làm cho thời gian quy trình và chu kỳ sản xuất giảm; ở tất cả các công đoạn sản xuất mức hàng tồn kho sẽ được giảm đi, nhất là sản phẩm dở dang giữa các công đoạn. Mức tồn kho thấp hơn đồng nghĩa với yêu cầu vốn lưu động ít hơn; cải thiện năng suất lao động bằng cách vừa giảm thời gian nhàn rỗi của công nhân, đồng thời phải đảm bảo công nhân đạt năng suất lao động 7 cao nhất trong thời gian làm việc (không thực hiện những công việc hay thao tác không cần thiết); tận dụng thiết bị và mặt bằng: từ việc loại bỏ các trường hợp ùn tắc và gia tăng tối đa hiệu suất sản xuất trên các thiết bị hiện có, đồng thời giảm thiểu thời gian máy dừng sẽ làm cho việc sử dụng thiết bị và mặt bằng sản xuất hiệu quả hơn; tính linh động: có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau một cách linh động hơn với chi phí và thời gian chuyển đổi thấp nhất; gia tăng sản lượng một cách đáng kể với cơ sở vật chất hiện có nếu có thể giảm chu kỳ sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thiểu ùn tắc và thời gian máy dừng. Hầu hết các lợi ích trên đều dẫn đến việc giảm giá thành sản xuất như việc sử dụng các thiết bị máy móc và mặt bằng đạt hiệu quả tốt sẽ làm cho chi phí khấu hao (định phí) trên mỗi đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn, hay sử dụng người lao động và nguyên vật liệu trong sản xuất có hiệu quả sẽ làm cho chi phí nhân công của mỗi đơn vị sản phẩm giảm đi và mức phế phẩm cũng giảm đi sẽ làm cho giá vốn hàng bán giảm đi, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Theo OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (2002) đã đưa ra cách tính năng suất dựa trên tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào, trong đó đầu ra được tính bằng GDP (tổng sản phẩm quốc nội) hoặc GVA (tổng giá trị gia tăng - Gross Value Added), đầu vào thường được tính bằng: giờ công lao động, lực lượng lao động và số lượng lao động đang làm việc. Theo Polyzos (2003), năng suất lao động được xác định bằng cách so sánh chi phí lao động với tổng hiệu quả của lao động, mà thường được mô tả bởi số lượng các sản phẩm được sản xuất. Trong nghiên cứu, thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để thể hiện năng suất lao động và trong thời gian tổng lợi nhuận của các hệ số và các yếu tố sản xuất. Hơn nữa, theo một định nghĩa rộng hơn, năng suất đề cập đến quy trình sản xuất và số lượng được thể hiện như số lượng của hàng hóa sản xuất (đầu ra) chia cho các đơn vị của các hệ số sử dụng sản xuất (đầu vào).
Theo báo cáo nghiên cứu chỉ tiêu năng suất Việt Nam (2006 – 2007) cho rằng năng suất là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu 8 ra đó, và đề cập đến năng suất là đề cập đến hai khía cạnh. Đó là đầu vào và đầu ra, đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực, trong khi đó đầu ra là thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ, và hiện nay đầu ra được nhấn mạnh hơn theo cách tiếp cận mới. Báo cáo nghiên cứu chỉ tiêu năng suất Việt Nam (2010) cho rằng năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm. Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất.
Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dung công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012), có nhiều chỉ tiêu để tính năng suất lao động như sau: Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng hiện vật: là dùng đơn vị hiện vật để biểu diễn năng suất lao động. Công thức tính: W = Q/T Trong đó: W là năng suất lao động tính bằng hiện vật Q là sản lượng tính bằng hiện vật T là tổng thời gian hao phí để sản xuất sản lượng Q Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng giá trị: biểu hiện bằng tiền tất cả các loại sản phẩm của doanh nghiệp. Công thức tính: W = Q/T Trong đó: W là năng suất lao động tính bằng giá trị Q là sản lượng tính bằng giá trị 9 T là tổng thời gian hao phí để sản xuất sản lượng Q Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng thời gian lao động: sử dụng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm để biểu hiện năng suất lao động.