Chương 1: Tổng quan: Chương này trình bày tóm tắt lý do chọn đề tài, các mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Khái quát chung về nguồn nguyên liệu hóa thạch: Chương này trình bày sơ lược về các nguồn nhiên liệu hóa thạch cũng như tầm quan trọng của nhiên liệu hóa thạch đối với ngành ô tô. Chương 3: Nhiên liệu truyền thống sử dụng trên ô tô: Chương này trình bày về các đặc điểm, tính chất, các chỉ tiêu đánh giá nhiên liệu xăng và diesel. Chương 4: Nhiên liệu mới sử dụng trên ô tô: Chương này tập trung trình bày về các nguồn nhiên liệu mới được sử dụng trên ô tô hiện nay.
3 Chương 5: Kết luận và đề nghị: Kết luận về đề tài và các kiến nghị phát triển nghiên cứu trong tương lai về các nguồn nhiên liệu mới sử dụng trên ô tô. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHIÊN LIỆU HÓA THẠCH 2. Giới thiệu khái quát về nhiên liệu hóa thạch. Nguồn gốc của nhiên liệu hóa thạch.
Nhiên liệu hóa thạch là các loại nhiên liệu chứa một hàm lượng cacbon và hydrocacbon cao. Chúng được tạo thành bởi quá trình phân hủy kỵ khí của các sinh vật chết bị chôn vùi cách đây hơn 300 triệu năm. Cụ thể là thực vật phù du và động vật phù du lắng đọng xuống đáy biển (hồ) với số lượng lớn. Với điều kiện thiếu oxy và trải qua thời gian địa chất.
Các hợp chất hữu cơ này trộn với bùn, và bị chôn vùi bên dưới các lớp trầm tích nặng. Trong điều kiện nhiệt độ và áp suất cao làm cho các vật chất hữu cơ bị biến đổi hóa học. Tạo thành các nhiên liệu hóa thạch. 1: Sự hình thành của nhiên liệu hóa thạch Các năng lượng hóa thạch thường thay đổi từ chất dễ bay hơi với tỷ số cacbon và hydro 1:1 thấp.
Như methane, dầu hỏa dạng lỏng,… Đến các chất không bay hơi chứa toàn cacbon như than đá. Tầm quan trọng của nhiên liệu hóa thạch. 5 Nhiên liệu hóa thạch có vai trò rất quan trọng bởi vì chúng có thể được dùng làm chất đốt (bị ôxi hóa thành điôxít cacbon và nước) để tạo ra năng lượng. Việc sử dụng than làm nhiên liệu đã diễn ra rất lâu trong lịch sử.
Than được sử dụng để nấu chảy quặng kim loại. Các hydrocacbon bán rắn rò rỉ lên mặt đất cũng được dùng làm chất đốt trong thời cổ đại, nhưng các vật liệu này hầu hết được sử dụng làm chất chống thấm và ướp xác. Khai thác dầu mỏ thương mại, phần lớn là sự thay thế cho dầu có nguồn gốc động vật (như dầu cá) để làm chất đốt cho các loại đèn dầu bắt đầu thừ thế kỷ 19. Khí thiên nhiên đã có thời kỳ bị đốt bỏ trên các giàn khoan dầu và được xem là sản phẩm không cần thiết của quá trình khai thác dầu mỏ, nhưng bây giờ được quan tâm rất nhiều và được xem là tài nguyên rất có giá trị.
Việc sử dụng nhiêu liệu hóa thạch ở phạm vi rộng, thì nhiên liệu đầu tiên là than, theo sau là dầu hỏa để vận hành các động cơ hơi nước và là đóng góp rất lớn cho cuộc cách mạng công nghiệp. Vào cùng thời gian đó, khí đốt sử dụng khí thiên nhiên hoặc khí than cũng được sử dụng rộng rãi. Việc phát minh ra động cơ đốt trong và lắp đặt nó trong ô tô và xe tải đã làm tăng cao nhu cầu sử dụng xăng và dầu diesel, cả hai loại này đầu là sản phẩm chưng cất từ nhiên liệu hóa thạch. Các hình thức vận tải khác như đường sắt và hàng không cũng đòi hỏi sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Các nguồn tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch khác như nhà máy điện và công nghiệp hóa dầu. Hắc ín là sản phẩm còn lại sau khi chiết tách dầu, cũng được dùng làm vật liệu trải đường. Ưu điểm và hạn chế của nhiên liệu hóa thạch. Trong dòng chảy lịch sử, không thể phủ nhận vai trò của năng lượng hóa thạch nói chung và than đá nói riêng đối với sự phát triển của nhân loại.
Dầu mỏ, khí đốt, than đá cung cấp phần lớn tổng năng lượng trên toàn cầu. Trong đó, nhiên liệu than cung cấp năng lượng chính cho toàn thế giới trong suốt thế kỷ qua. Than được dùng để tạo ra điện trong các nhà máy nhiệt điện; là nhiên liệu trong các máy hơi nước, đầu máy xe lửa; tạo ra nhiệt trong các nhà máy luyện kim… Các ngành công nghiệp quan trọng như xi măng, luyện kim, hóa chất… không thể hình thành và phát triển được nếu không dựa vào năng lượng than. Thời gian qua, nhiệt 6 điện than cũng có vai trò cực kỳ quan trọng giúp đáp ứng được nhu cầu điện năng rất lớn đảm bảo sự tăng trưởng của nền kinh tế (mức tăng trưởng nhu cầu điện thường gấp 1,5-2 lần so với mức tăng trưởng GDP).
2: Than đá, năng lượng hóa thạch đã và đang có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhân loại Trong các nguồn năng lượng hóa thạch, than đá có nhiều ưu điểm như dễ khai thác, dễ chế biến, dễ trao đổi mua bán, dễ vận chuyển hơn so với dầu mỏ và khí tự nhiên. Hơn nữa, công nghệ đốt than tương đối đơn giản, có thể phát triển ở quy mô công nghiệp lớn. Chính vì vậy, than đá đã và đang được trọng dụng ở nhiều quốc gia. Có thể nói, thế giới đang phụ thuộc rất nhiều vào than và các nguồn năng lượng hóa thạch.
- Năng lượng hoá thạch đang dần cạn kiệt: Trái Đất mất hàng triệu năm để tạo ra các nhiên liệu hóa thạch trong khi tốc độ tiêu thụ của con người lại rất nhanh khiến nguồn nhiên liệu này ngày càng trở nên cạn kiệt. Hiện nay, các quốc gia có mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp từ than cao như là Trung Quốc (> 10000 TWh), Hoa Kỳ (2556 TWh), Ấn Độ (4871 TWh)… Các quốc gia có mức tiêu thụ năng lượng 7 chính từ dầu mỏ cao như Hoa Kỳ (9039 TWh), Trung Quốc (7916 TWh), Ấn Độ (2506 TWh)…… Các quốc gia có mức tiêu thụ khí đốt cao như Hoa Kỳ ( 8320 TWh ), Nga ( 4114 TWh ), Trung Quốc ( 3306 TWh), Iran ( 2331 TWh )….[ nguồn : đánh giá thống kê về năng lượng thế giới – BP (2021) ] Trên thế giới, nếu cứ giữ tốc độ khai thác và tiêu thụ như hiện nay thì trữ lượng dầu mỏ ước tính chỉ còn đủ dùng cho 50 năm nữa, khí thiên nhiên còn khoảng 53 năm và than đá còn 114 năm. Tại Việt Nam, nếu giữ nguyên tốc độ khai thác như hiện nay thì dầu mỏ chỉ còn 34 năm, khí thiên nhiên còn 63 năm và than đá chỉ còn 4 năm. 3: Số năm dự trữ nhiên liệu hóa thạch còn lại[ Nguồn: Đánh giá thống kê của BP về năng lượng thế giới 2016] - Tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người: 8 Hình 2.
4: Sử dụng năng lượng hóa thạch làm phát thải lượng lớn khí nhà kính, là một nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu Sự phát triển các nguồn năng lượng hóa thạch kéo theo nhiều hệ lụy cho môi trường. Việc đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra khoảng 21,3 tỉ tấn CO2 mỗi năm và làm tăng 10,65 tỉ tấn CO2 trong khí quyển. CO2 là một loại khí nhà kính làm tăng lực phóng xạ và góp phần vào sự nóng lên toàn cầu. Ngoài CO2, đốt nhiên liệu hóa thạch cũng tạo ra các chất ô nhiễm không khí khác như các chất NO2, SO2, hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và các kim loại nặng.
Theo đánh giá khoa học của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), việc sử dụng năng lượng hóa thạch đóng góp 56,6% tổng lượng khí nhà kính do hoạt động của con người năm 2004. Trong các nhiên liệu hóa thạch, than đá được coi là nhiên liệu ô nhiễm nhất, thải ra lượng CO2 gấp đôi so với khí tự nhiên và nhiều hơn 30% so với xăng. + Gây ô nhiễm không khí: Đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra các axít như sulfuric, cacbonic và nitric,… Các chất này có nhiều khả năng tạo thành mưa axít và ảnh hưởng đến các vùng tự nhiên và hủy hoại môi trường. Các tượng điêu khắc làm bằng cẩm thạch và đá vôi cũng phần nào bị phá hủy do axít hòa tan cacbonat canxi.
Năng lượng hóa thạch cũng chứa các chất phóng xạ chủ yếu như urani 9 và thori,… chúng được phóng thích vào không khí.000 tấn thori và 5.000 tấn urani đã bị thải ra từ việc đốt than. Đốt than cũng tạo ra một lượng lớn xỉ và tro bay. Do đó, đây cũng là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí ngày càng nặng nề Hình 2. 5: Hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch của nhà máy gây ô nhiểm không khí + Gây ô nhiễm nguồn nước: Các nhà máy lọc dầu cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường nước.
Đặc biệt là việc khai thác dầu ở môi trường biển. Dầu thô được vận chuyển bằng các tàu chở dầu. Các hoạt động này đòi hỏi phải đốt nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Đặc biệt, có rất nhiều trường hợp tàu chìm gây hiện tượng tràn dầu.
Ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường biển và các sinh vật thủy sinh. 6: Tràn dầu gây ô nhiễm biển Ngoài ra, việc khai thác dầu trên cạn cũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường. Việc khai thác dầu sẽ tác động trực tiếp tới nước mặt và cả hệ thống nguồn nước ngầm. Nếu nguồn nước bị nhiễm dầu sẽ gây những tác hại và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người sử dụng.
Không chỉ tác động đến hệ sinh thái, việc sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Ô nhiễm không khí do than gây ra nhiều bệnh tim mạch và các bệnh lý đường hô hấp. Tiếp xúc với bụi than thời gian dài có thể gây bệnh phổi đen với biểu hiện viêm, xơ phổi, có khi hoại tử phổi… Ước tính mỗi tỉ kWh điện sản xuất từ than đá gây ra 24,5 ca tử vong, 225 ca bệnh nghiêm trọng và hơn 13.000 các vấn đề sức khỏe khác. Tình hình sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch.
Việc đốt nhiên liệu hóa thạch để lấy năng lượng bắt đầu vào khoảng thời gian bắt đầu cuộc Cách mạng Công nghiệp. Nhưng mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch đã thay đổi đáng kể trong vài thế kỷ qua - cả về những gì và mức độ chúng ta đốt. Trong biểu đồ tương tác, chúng ta thấy mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch toàn cầu được chia nhỏ theo than, dầu và khí đốt kể từ năm 1800.