Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức Sở Tài nguyên và Môi trường Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương 10 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG 1. Công chức Sở Tài nguyên và Môi trƣờng 1. Khái niệm công chức Sở Tài nguyên và Môi trường Công chức là khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, không có một định nghĩa chung duy nhất về công chức cho mọi quốc gia.
Quan niệm công chức gắn liền với yếu tố chính trị và đời sống chính trị - xã hội có tính chất quyết định đến chế độ công vụ và quan niệm về công chức. Có những quốc gia coi công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước, bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp hay các lực lượng vũ trang, công an. Trong khi đó, có những nước lại chỉ giới hạn công chức là những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước hay hẹp hơn là trong các cơ quan hành chính nhà nước. Nhìn lại lịch sử Việt Nam, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam chỉ được xác định trong phạm vi các cơ quan Chính phủ.
Theo Điều 1 Sắc lệnh 76/SL, công chức được định nghĩa là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Do hoàn cảnh kháng chiến sau đó, nên tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL nhưng trên thực tế các nội dung của quy chế đó không được áp dụng. Đến thời kỳ đổi mới, do yêu cầu của hiện thực khách quan, khái niệm “công chức” đã được xác định rõ ràng hơn, cụ thể hơn trong các văn bản: Nghị định số169/HĐBT ban hành ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công 11 chức nhà nước; Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Pháp lệnh cán bộ, công chức ban hành ngày 26/2/1998, sửa đổi bổ sung năm 2003. Nhằm đáp ứng những vấn đề thực tiễn trong công tác quản lý, ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XII, Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua và ban hành Luật Cán bộ, Công chức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 của Luật Cán bộ, Công chức :“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP đã quy định rõ những người là công chức, cụ thể: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này”. Theo đó, công chức ở Việt Nam bao gồm các đối tượng như sau: - Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam. 12 - Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước.
- Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập. - Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện. - Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân. - Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân.
- Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội. Như vậy, công chức Sở Tài nguyên và Môi được quy định là các đối tượng làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh và là một bộ phận của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Đồng thời, theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đây là nhóm công chức thực hiện nhiệm vụ “Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo (đối với các tỉnh có biển, đảo)”. Từ những căn cứ nêu trên, có thể đi đến khái niệm công chức Sở Tài nguyên và Môi trường như sau:“Công chức Sở Tài nguyên và Môi trường là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Công chức Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho UBND cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường tại địa phương”. 13 Căn cứ vào sự phân công, phân cấp trong quản lý công chức và tùy vào vị trí việc làm, công chức Sở Tài nguyên và Môi trường được chia thành các nhóm như sau: - Nhóm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp Sở. - Nhóm công chức giữ chức vụ quản lý tại các phòng, chi cục (sau đây gọi chung là cấp phòng). - Nhóm công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thực hiện các công tác chuyên môn.
- Nhóm công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thực hiện các công tác hỗ trợ, phục vụ (tổ chức nhân sự, hành chính tổng hợp, văn thư, kế toán, thủ quỹ). Vị trí, vai trò của công chức Sở Tài nguyên và Môi trường - Vị trí Công chức Sở Tài nguyên và Môi trường là một bộ phận công chức làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được phân công, công chức Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND cấp tỉnh thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý và tổ chức thực hiện các dịch vụ công. - Vai trò Trong bối cảnh yêu cầu xây dựng bộ máy hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì vai trò của công chức nói chung càng trở nên quan trọng.
Họ chính là chủ thể được trao các nhiệm vụ, quyền hạn nhằm thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, đưa pháp luật vào hiện thực đời sống một cách nghiêm minh để đảm bảo tính pháp quyền của nhà nước. Bên cạnh đó, công chức còn có vai trò thực thi quyền lực nhà nước sao cho bảo vệ được 14 quyền và lợi ích của người dân. Đối với công chức Sở Tài nguyên và Môi trường thì có các vai trò như sau: Một là, đội ngũ công chức Sở Tài nguyên và Môi trường là một bộ phận quan trọng giúp cho bộ máy quản lý hành chính nhà nước về tài nguyên và môi trường tại địa phương hoạt động. Nếu thiếu đội ngũ này, thì toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường sẽ rất khó đi vào cuộc sống.
Đồng thời, hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức Sở Tài nguyên và Môi trường cũng sẽ góp phần quan trọng vào việc đánh giá hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền tại địa phương. Hai là, công chức Sở Tài nguyên và Môi trường là người tham mưu UBND cấp tỉnh triển khai, cụ thể hóa các đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tài nguyên và môi trường để phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Mặt khác, trong quá trình thực hiện, họ sẽ phát hiện kịp thời những bất cập của các văn bản trung ương để tham gia sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường tại địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Ba là, hoạt động của đội ngũ công chức Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của địa phương.
Nếu công chức có trình độ, năng lực, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức tốt thì những quyền, lợi ích chính đáng cũng như những yêu cầu bức thiết của người dân sẽ được giải quyết, kinh tế - xã hội địa phương phát triển, đời sống người dân được cải thiện. Bốn là, trong mối quan hệ với người dân, với vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, công chức Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ góp phần tạo lập và tăng cường mối quan hệ giữa dân với chính quyền địa phương cấp tỉnh. Điều này được thể hiện qua việc họ là những người trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường với mục tiêu 15 phục vụ nhân dân, lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và phản ánh đến với Đảng, Nhà nước để những chủ trương, chính sách được ban hành phù hợp với thực tiễn đời sống nhân dân.