phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu theo ba chương: C ƣơn 1 Cở sở lý luận về năn lực tài chính của doanh nghiệp hoạt động tron lĩn vực bảo hiểm nhân thọ C ƣơn 2 T ực trạn năn lực tài chính của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ C ƣơn 3 G ải pháp nhằm n n cao năn lực tài chính của Tổng công ty Bảo Việt Nhân Thọ. 8 CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Hoạt độn của doan n ệp bảo ểmn nt ọ 1. Khái niệm về bảo hiểm và bảo hiểm nhân thọ Trong lịch sử hình thành và phát triển, ý thức của con người về hoạt động tiết kiệm và bảo hiểm đã xuất hiện từ rất lâu đời.
Các hoạt động đó nhằm giảm thiểu và hạn chế những tổn thất có thể xảy ra đối với con người và tài sản trước thiên tai, bệnh dịch,. Sau hàng ngàn năm, hoạt động bảo hiểm đã phát triển không ngừng và trở thànhh một trong những ngành dịch vụ tài chínhcó sức ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, gắn kết chặt chẽ với hoạt động đời sống sinh hoạt của con người. Có nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm: Theo Dennis Kessler (Cựu Chủ tịch công ty tái bảo hiểm SCOR – có trụ sở tại Pháp): “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”. “Bảo hiểm là một cơ chế, theo đó, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển giao rủi ro cho DNBH.
Công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”, theo Tập đoàn Bảo hiểm AIG – Mỹ “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”, Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000) Hoạt động bảo hiểm có nhiều cách phân loại khác nhau, theo kỹ thuật bảo hiểm, bảo hiểm chia thành 2 loại gồm: Hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ và hoạt động BHNT, tương ứng với hai đặc điểm “phân bổ” và “tồn tích vốn”. 9 Bảo hiểm phi nhân thọ: “là các loại hình bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổn định (tương đối) theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm phi nhân thọ). Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường là hợp đồng ngắn hạn (một năm)”. Bảo hiểm nhân thọ: “là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là BHNT).
Các hợp đồng loại này thường là dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời. Theo khoản 12 điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10, BHNT được định nghĩa là: “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc”. Cụ thể, BHNT là sự cam kết giữa doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với những người tham gia.DNBH có nghĩa vụ và trách nhiệm chi trả số tiền bảo hiểm cho những người tham gia theonhững quy định trong hợp đồng (như: tử vong, thương tật toàn bộ hoặc vĩnh viễn, hết hạn hợp đồng hoặc sống đến một thời hạn nhất định,. Đối với những người tham gia BHNT phải có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn theo các nội dung quy định trong Hợp đồng.
Lịch sử phát triển của bảo hiểm nhân thọ. BHNT ra hình thanh sau hình thức bảo hiểm phi nhân thọ do con người có ý thức về việc bảo hiểm về tài sản trong hoạt động giao thương trước khi nghĩ đến các hình thức để bảo hiểm cho bản thân. Tuy nhiên BHNT sơ khai cũng đã xuất hiện từ rất lâu. Theo wikitaichinh: “Hình thức bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời vào năm 1583 ở Luân Đôn, nước Anh.
Tuy nhiên lúc này, bảo hiểm chưa có điều kiện để phát triển vì thiếu cơ sở toán học để tính phí cùng với sự hạn chế trong nhận thức của con người”. Ở giai đoạn này, BHNT chịu nhiều sự phản đối trước những đức tin của con người. Họ cho rằng BHNT trái với ý niệm của chúa trời khi lấy tính mạng của con 10 người ra để cá cược bằng tiền bạc. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, con người khi đó đã ý thức được việc bảo vệ cho bảo thân và gia đình trong tương lai.
Ở giai đoạn tiếp theo, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, đời sống của con người được cải thiện rõ rệt, và đặc biệt với“sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật nên BHNT đã có điều kiện phát triển trên phạm vi rộng lớn. Với sự xuất hiện các phép tính xác suất Pascal và Fermat thì sự phát triển của BHNT trở thành một tất yếu khách quan.” Cho đến nay BHNT đã phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng. Từ những loại hình “ nhân thọ cơ bản là“Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn (Bảo hiểm tử kỳ), Bảo hiểm trọn đời, BHNT hỗn hợp, Bảo hiểm trợ cấp hưu trí, mỗi DNBH đều thiết kế những sản phẩm mang những đặc thù riêng để đáp ứng nhu cầu tài chính của từng khu vực dân cư và phù hợp với chính sách kinh tế, xã hội của từng quốc gia. Các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm nhân thọ.
Hoạt động kinh doanh BHNT là ngành kinh doanh rủi ro, do đóBHNTcần phải hoạt động tuân theo các nguyên tắc đặc trưng riêng. Hoạt động của BHNT có các nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, nguyên tắc trung thực tuyệt đối: hoạt động BHNT liên quan tới tính mạng và sức khỏe của con người nên yếu tố trung thực, tin tưởng giữa các bên được đặt lên hàng đầu. Việc người mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin được yêu cầu sẽ giúp cho các DNBH có thể đánh giá rủi ro và xác định mức phí bảo hiểm chính xác hơn, và cũng tạo thuận lợi cho việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm sau này. Thứ hai, nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm: “Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm”, điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10.
Mọi cá nhân đều có thể bảo hiểm cho tính mạnh của mình, vì vậy họ có thể bảo hiểm tính mạng của cá nhânsố tiền họ muốn chỉ cần đóng đủ số tiền bảo hiểm theo mức bảo hiểm đó. Quyền 11 lợi bảo hiểm cũng được phép với người thân hoặc những người có trách nhiệm hợp pháp với người được bảo hiểm. Thứ ba, nguyên tắc bảo hiểm tiết kiệm: Khách hàng tham gia BHNT sẽ nộp những khoản phí định kỳ trong một khoảng thời gian theo quy định của hợp đồng. Khi hợp đồng BHNT kết thúc, người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được toàn bộ hoặc từng phần số tiền bảo hiểm theo thời gian.
Ngoài ra, số tiền bảo hiểm nhận được còn bao gồm thêm một khoản lãi suất từ hoạt động đầu tư vốn của bảo hiểm. Thứ tƣ, nguyên tắc số đôn (qu luật số lớn): Quy luật số lớn là nền tảng khoa học quan trọng trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung là BHNT nói riêng. Nguyên tắc này giúp cho cácDNBHxác định được xác suất rủi ro khi kinh doanh bảo hiểm, từ đó xác định được phí bảo hiểm và quản lý các quỹ dự phòng bồi thường. Quy tắc số lớn đả bảo cho các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên, chứ không tính toán cho các trường hợp riêng lẻ.
Các DNBHkhi thực hiện kinh doanh trên một số lớn khách hàng thì có thể tính toán được về xác suất xảy ra sự cố ở mức độ tương đối “ chính xác có thể chấp nhận được. ” Thứ năm, nguyên tắc khoán:là“nguyên tắc được áp dụng để giải quyết các quyền lợi bảo hiểm đối với bảo hiểm con người nói chung và BHNT nói riêng. Các DNBHdựa vào số tiền bảo hiểm trong hợp đồng đã ký kết kết hợp với các quy định trong hợp đồng để chi trả bồi thường cho người được thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Khoản tiền này ngoài mục đích bồi thường một phần tổn thất xảy ra đối với người được bảo hiểm và thêm cả tính chất thực hiện cam kết của hợp đồng theo mức khoán đã quy định.” Việc áp dụng nguyên tắc này cho phép một đối tượng vẫn có thể tham gia nhiều hợp đồng BHNT cùng lúc và không bị hạn chế về số tiền tham gia bảo hiểm.
Khi đó, quyền lợi bảo hiểm của khách hàng sẽ được mở rộng. Các nghiệp vụbảo hiểm nhân thọ Nhu cầu về sự đa dạng của sản phẩm trong lĩnh vực BHNT là rất cao, các sản phẩm BHNT sẽ được phân thành các nhóm khác nhau, Điều 7 Luật kinh doanh Bảo hiểm số 24/2000/QH10 quy định phân loại các sản phẩmBHNT như sau: 12 Bảo hiểm trọn đời Bảo hiểm trọn đời là “nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó heo hợp đồng bảo hiểm này, các DNBH cam kết bồi thường tiền cho người thụ hưởng bảo hiểm khi người được bảo hiểm tỷ vongtrong phạm vi bảo hiểm quy định trong hợp đồng”, theo Giáo trình đại lý bảo hiểm cơ bản. Mục đích của hợp đồng BHNT trọn đời là bảo đảm thu nhập cho người thân của người được bảo hiểm khi người đó qua đời. Đối với những hợp đồng có giá trị bảo hiểm lớn, việc tham gia BHNT trọn đời giúp tạo lập tài sản, tạo đảm bảo tài chính, đảm bảo cuộc sống sau này cho người thân.
Bảo hiểm sinh kỳ Bảo hiểm sinh kỳ là “nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thỏa thuận theo hợp đồng bảo hiểm”,theoGiáo trình đại lý bảo hiểm cơ bản. Thông thường nếu như người được bảo hiểm tử vong trước thời hạn kết thúc hợp đồng, DNBH sẽ không phải thanh toán bất cứ khoản phí bảo hiểm nào.