Năng Lực Nghiên Cứu Khoa Học Của Cán Bộ Ở Cục Khoa Học - Lịch Sử Quân Sự

Luận án tiến sĩ phân tích năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở cục khoa học lịch sử quân sự quân đội nhân dân lào hiện, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Cục Khoa Học - Lịch Sử Quân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
212
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Năng Lực Nghiên Cứu Khoa Học Tại Cục KHQS

Nghiên cứu khoa học đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của Quân đội nhân dân Lào. Đại hội XI của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào nhấn mạnh khuyến khích nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ, thông tin. Năng lực nghiên cứu của cán bộ tại Cục Khoa học - Lịch sử Quân sự (Cục KHQS) giúp họ nắm bắt chuyên môn sâu sắc hơn, bổ sung kiến thức mới và mở rộng hiểu biết. Tham gia nghiên cứu khoa học là cơ hội để cán bộ bồi dưỡng năng lực, phát triển sáng tạo, làm việc độc lập và trau dồi tri thức. Quá trình này còn rèn luyện tư duy độc lập, phản biện và bảo vệ lập trường khoa học. Nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học của quân đội và quốc gia. Cán bộ nghiên cứu có năng lực tốt là điều kiện quan trọng nâng cao chất lượng hoàn thành nhiệm vụ chính trị, góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Việc nghiên cứu "Năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục Khoa học - Lịch sử quân sự Quân đội nhân dân Lào hiện nay" là vấn đề có tính thời sự góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện.

1.1. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Khoa Học Quân Sự

Nghiên cứu khoa học là yếu tố sống còn cho sự phát triển của Quân đội nhân dân Lào. Nó không chỉ giúp cán bộ nâng cao trình độ chuyên môn mà còn góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các công trình nghiên cứu khoa học cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách và chiến lược quốc phòng. Nghiên cứu khoa học còn thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo trong quân đội, giúp quân đội đáp ứng tốt hơn với những thách thức mới trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quân lần thứ V.

1.2. Vai Trò của Cán Bộ Nghiên Cứu Tại Cục KHQS

Cán bộ nghiên cứu là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học của Cục KHQS. Họ là những người trực tiếp tham gia vào việc xác định vấn đề, thu thập dữ liệu, phân tích thông tin và đưa ra các kết luận khoa học. Năng lực nghiên cứu khoa học của họ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của các công trình nghiên cứu. Do đó, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Theo tác giả Thông Xay Phi La Lắc thì năng lực nghiên cứu còn nhiều hạn chế.

II. Vấn Đề Hạn Chế Năng Lực Nghiên Cứu Cán Bộ Giải Pháp

Mặc dù có nhiều chủ trương, biện pháp được đưa ra, năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục KHQS vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Một bộ phận cán bộ có kiến thức và kỹ năng nghiên cứu còn hạn chế, tính tích cực trong nghiên cứu chưa cao. Phương pháp nghiên cứu còn nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng một số công trình khoa học còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của Quân đội. Những hạn chế này xuất phát từ việc cán bộ chưa nắm vững lý luận về nghiên cứu khoa học và thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về vấn đề này. Đại hội đại biểu toàn quân lần thứ V của Đảng ủy Bộ Quốc phòng Lào chỉ rõ: “ Công tác khoa học công nghệ và nghiên cứu lịch sử quân sự có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng quân đội.

2.1. Thực Trạng Kỹ Năng Nghiên Cứu Yếu Kém Của Cán Bộ

Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ tại Cục KHQS còn thiếu hụt về các kỹ năng nghiên cứu cơ bản như xác định đề tài, thu thập và phân tích dữ liệu, xây dựng đề cương, viết báo cáo khoa học. Điều này dẫn đến việc các công trình nghiên cứu thường thiếu tính sáng tạo, không có giá trị thực tiễn cao, hoặc không đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ. Việc thiếu kỹ năng nghiên cứu còn khiến cán bộ gặp khó khăn trong việc tiếp cận và ứng dụng các phương pháp nghiên cứu mới, cũng như trong việc hợp tác với các nhà khoa học khác.

2.2. Thiếu Động Lực Nghiên Cứu và Tự Đào Tạo ở Cán Bộ

Một vấn đề đáng quan ngại khác là sự thiếu động lực và ý thức tự đào tạo trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu. Nhiều cán bộ xem việc nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ bắt buộc, chứ không phải là một cơ hội để phát triển bản thân và đóng góp cho sự nghiệp chung. Họ ít chủ động trong việc tìm tòi, học hỏi kiến thức mới, cũng như trong việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến. Điều này dẫn đến sự trì trệ và kém hiệu quả trong hoạt động nghiên cứu khoa học.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Giải Pháp Tâm Lý Xã Hội

Để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ ở Cục KHQS, cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, đặc biệt là các giải pháp tâm lý - xã hội. Cần trang bị kiến thức toàn diện, xây dựng động cơ, thái độ nghiên cứu khoa học tích cực, đa dạng hóa các hoạt động nghiên cứu nhằm rèn luyện, phát triển kỹ năng khoa học. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ trong tự học tập, tự nghiên cứu khoa học. Xây dựng môi trường tâm lý - xã hội quân sự lành mạnh trong nghiên cứu khoa học ở Cục Khoa học - Lịch sử quân sự. Luận án đã hệ thống lại, làm phong phú thêm lý luận về năng lực nghiên cứu khoa học nói chung; năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục Khoa học - Lịch sử quân sự Quân đội nhân dân Lào nói riêng.

3.1. Xây Dựng Môi Trường Nghiên Cứu Khuyến Khích Sáng Tạo

Một môi trường nghiên cứu cởi mở, khuyến khích sáng tạo là yếu tố quan trọng để thúc đẩy năng lực nghiên cứu của cán bộ. Cần tạo điều kiện để cán bộ được tự do trao đổi ý tưởng, phản biện các quan điểm khoa học, cũng như được tiếp cận với các nguồn thông tin và tài liệu mới nhất. Ngoài ra, cần có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời đối với những cán bộ có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học.

3.2. Bồi Dưỡng Kỹ Năng Mềm và Tư Duy Phản Biện cho Cán Bộ

Bên cạnh các kiến thức chuyên môn, cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng mềm cho cán bộ nghiên cứu, như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian. Đặc biệt, cần rèn luyện tư duy phản biện, khả năng phân tích và đánh giá thông tin một cách khách quan, khoa học. Điều này giúp cán bộ có thể nhìn nhận vấn đề một cách đa chiều, tìm ra những giải pháp sáng tạo và hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Năng Lực Bài Học Thực Tiễn

Luận án đã chỉ ra thực trạng những biểu hiện về nhận thức, thái độ, kỹ năng nghiên cứu khoa học và kết quả nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục KHQS hiện nay. Làm rõ thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục KHQS. Phân tích được hai trường hợp điển hình, góp phần minh họa, làm rõ hơn kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục KHQS. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học, đề xuất các biện pháp tâm lý - xã hội phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho cán bộ ở Cục KHQS hiện nay.

4.1. Đánh Giá Thực Trạng Kỹ Năng Nghiên Cứu Theo Tiêu Chí Cụ Thể

Luận án đưa ra các tiêu chí cụ thể để đánh giá thực trạng kỹ năng nghiên cứu của cán bộ, bao gồm kỹ năng xác định đề tài, kỹ năng thu thập và phân tích dữ liệu, kỹ năng viết báo cáo khoa học, kỹ năng trình bày kết quả nghiên cứu. Dựa trên các tiêu chí này, có thể xác định được điểm mạnh, điểm yếu của từng cán bộ, từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp. Bảng 4.1 trong tài liệu gốc cung cấp một đánh giá chung về thực trạng năng lực nghiên cứu.

4.2. Phân Tích Yếu Tố Tác Động Đến Năng Lực Giải Pháp Phù Hợp

Luận án phân tích các yếu tố tác động đến năng lực nghiên cứu của cán bộ, bao gồm yếu tố chủ quan (như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghiên cứu, động lực làm việc) và yếu tố khách quan (như môi trường làm việc, chính sách đãi ngộ, cơ hội đào tạo). Dựa trên phân tích này, có thể đề xuất các giải pháp phù hợp để khắc phục những hạn chế và phát huy những điểm mạnh của cán bộ. Sơ đồ 2.1 trong tài liệu gốc minh họa các yếu tố ảnh hưởng này.

V. Kết Luận Phát Triển Bền Vững Năng Lực Nghiên Cứu Cán Bộ

Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung về lý luận ở lĩnh vực khoa học tâm lý nói chung Tâm lý học đại cương, Tâm lý học lãnh đạo, quản lý bộ đội đối với năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục KHQS hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là cơ sở để nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục KHQS , nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Cục KHQS góp phần quan trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Lào Xã hội chủ nghĩa.

5.1. Đề Xuất Giải Pháp Đồng Bộ Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ

Để phát triển bền vững năng lực nghiên cứu của cán bộ, cần có giải pháp đồng bộ, bao gồm việc nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu, xây dựng môi trường làm việc khuyến khích sáng tạo, và có chính sách đãi ngộ phù hợp. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp lãnh đạo, các đơn vị chức năng, và bản thân từng cán bộ trong quá trình thực hiện các giải pháp này.

5.2. Định Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Năng Lực Nghiên Cứu

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về năng lực nghiên cứu khoa học trong quân đội. Cần tiếp tục nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu, cũng như các phương pháp bồi dưỡng năng lực nghiên cứu hiệu quả. Ngoài ra, cần mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các đối tượng khác trong quân đội, cũng như sang các lĩnh vực khác của khoa học quân sự.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở cục khoa học lịch sử quân sự quân đội nhân dân lào hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục Khoa học - Lịch sử quân sự Quân đội nhân dân Lào Những nghiên cứu có liên quan đến năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ ở Cục Khoa học - Lịch sử quân sự Quân đội nhân dân Lào, được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu từ khá sớm. Các kết quả nghiên cứu được khái quát trên các hướng chủ yếu sau: 1. Các công trình nghiên cứu về biểu hiện năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học Nghiên cứu về biểu hiện của năng lực trong tâm lý học có nhiều cách tiếp cận khác nhau, theo đó các tác giả cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau, cụ thể: Các công trình nghiên cứu coi năng lực là một tổ hợp những thuộc tính nói chung của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó.

Tiêu biểu có các tác giả như sau: Tác giả A. Lâytex [55] đều có chung quan niệm coi năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao. Platônôv, năng lực gồm: Thành phần chủ đạo (gồm những thành tố quy định phương hướng của hoạt động của con người); Thành phần chỗ dựa (gồm những thành tố có tính chất là công cụ của hoạt động); Thành phần làm nền (bao gồm những thành tố hỗ trợ, bổ sung) [70]. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một (LUAN.nay luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.nay 15 nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả một hoạt động nào đó” [41, tr.

Năng lực gắn liền với hoạt động nhất định, biểu hiện trong hoạt động và bằng kết quả hoạt động. Các công trình nghiên cứu năng lực là một tổ hợp các phẩm chất tâm lý và sinh lý của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó, tiêu biểu có các tác giả như: Tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Kế Hào, Phan Thị Hạnh Mai cho rằng năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một loại hình hoạt động cụ thể, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. Năng lực là mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị hoàn thành có kết quả một hoạt động cụ thể. Theo các tác giả, năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả [94].

Các quan niệm về năng lực theo hai hướng tiếp cận trên đây đã tồn tại trong thời gian khá dài với tính ưu việt của nó coi năng lực là một phẩm chất tổng hợp của nhân cách bao gồm cả phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo ra tiền đề, điều kiện bảo đảm cho hoạt động, quy định kết quả, hiệu quả hoạt động. Năng lực gắn với chủ thể hoạt động, mang tính chủ thể rất cao, được hình thành và biểu hiện trong hoạt động cụ thể, không có năng lực chung chung, trừu tượng. Tuy nhiên, việc luận giải sự tổng hợp và chỉ ra vai trò, biểu hiện của các thành tố tâm lý cụ thể như kiến thức, kỹ năng, thái độ, nhu cầu, động cơ, tính tích cực hoạt động, tính chất xã hội - nghề nghiệp của năng lực chưa thật cụ thể. Do đó, quá trình tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, đo đạc năng lực hoạt động thực tiễn nghề nghiệp nhất định gặp phải khó khăn, khó lượng hóa và khó chuyên sâu theo lĩnh vực cụ thể.

Các nghiên cứu xem năng lực là sự kết hợp của yếu tố như kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân. đáp ứng hiệu quả của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Theo “Chương trình giáo dục phổ thông” của Quebec - Canada, năng lực được hiểu theo nghĩa rất rộng và bao quát, biểu hiện sự kết hợp linh hoạt, (LUAN.nay luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.nay 16 độc đáo của nhiều thành tố, khía cạnh tâm lý cá nhân như kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ. trong đó kiến thức, kỹ năng và thái độ là thành phần cơ bản, quan trọng nhất.

Năng lực được biểu hiện ra ở việc đáp ứng một cách có hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động nào đó trong bối cảnh nhất định [Dẫn theo 116]. Weinert cho rằng kỹ năng là biểu hiện cụ thể của năng lực, kỹ năng chính là sự vận dụng sáng tạo kiến thức trong điều kiện phức tạp. Do vậy, để đánh giá năng lực nào đó của con người cần dựa vào những kỹ năng hoạt động của người đó, kỹ năng là biểu hiện cụ thể năng lực của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt [98]. Tác giả Denys Tremblay, nhà tâm lý học người Pháp khi đánh giá năng lực cần dựa trên những biểu hiện hệ thống tri thức có được, thái độ tích cực của cá nhân và kết quả của hành động được chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động kinh nghiệm và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống [104,tr.

Các công trình khoa học của các tác giả trên đây đã có sự phát triển, đề cập khá cụ thể đến các biểu hiện tâm lý tạo nên năng lực cá nhân như: kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, kỹ năng, động cơ, trách nhiệm, hứng thú, tình cảm, ý chí, niềm tin… Tuy nhiên, do không xác định rõ vị trí, vai trò, nhất là xác định yếu tố cơ bản, cốt lõi và mối quan hệ giữa chúng nên khó lượng hóa, đo đạc về năng lực cụ thể, cũng như khó khăn trong việc bồi dưỡng, rèn luyện năng lực nghề nghiệp cụ thể. Các công trình nghiên cứu coi năng lực là sự biểu hiện tổng hợp của ba thành tố tâm lý cơ bản bao gồm: kiến thức, thái độ và kỹ năng.nay luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.nay 17 Đây là hướng tiếp cận mới và khá phổ biến hiện nay về năng lực, được coi là bước đột phá trong nghiên cứu và ứng dụng năng lực vào thực tiễn nghề nghiệp. Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Tác giả Christian Battal khi nghiên cứu về năng lực chuyên môn trong hoạt động nghề nghiệp đã cho rằng, năng lực chuyên môn là những năng lực nhận thức, năng lực thực tiễn và năng lực hành vi mà một cá nhân đạt được. Năng lực chuyên môn bao gồm “kiến thức”, “kỹ năng” và “hành vi thái độ” cần thiết để đảm nhiệm một vị trí hoặc thực hiện một hoạt động.

Năng lực có được thông qua đào tạo và qua kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ thể [14, tr. Các tác giả theo trường phái tâm lý học Anh quan niệm, năng lực được biểu hiện qua 3 yếu tố: Kiến thức (Knowledges), Kỹ năng (Skills), Thái độ (Attitude). Đây còn gọi là mô hình KSA và được sử dụng khá phổ biến trong tâm lý học. Tác giả Benjamin Bloom (1956) là người đầu tiên đưa ra mô hình năng lực (Competense Model) đó là tổ hợp của kiến thức, kỹ năng và đặc điểm cá nhân (thái độ bản thân) cần để hoàn thành tốt một vai trò hoặc công việc.

Đây là mô hình năng lực được sử dụng trong quản trị nhân sự và phát triển năng lực cá nhân dựa trên ba nhóm tiêu chuẩn chính: 1- Kiến thức (Knowledges) thuộc về năng lực tư duy; 2- Kỹ năng (Skills) thuộc về kỹ năng thao tác và 3 - Phẩm chất hay thái độ (Attitude) thuộc về cảm xúc, tình cảm. Trong đó, kiến thức được hiểu là những năng lực thu thập và xử lý thông tin, năng lực hiểu các vấn đề, năng lực ứng dụng, năng lực phân tích. Kỹ năng phản ánh sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn trong hoạt động. Phẩm chất hay thái độ bao gồm các nhân tố thuộc về thế giới quan, tiếp nhận và phản ứng lại các thực tế, xác định giá trị, giá trị ưu tiên.

Các phẩm chất và hành vi thể hiện thái độ của cá nhân với công việc, động cơ cũng như những tố chất cần thiết để đảm nhận tốt công việc [Dẫn theo 101].nay luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.nay 18 Những quan niệm trên đã được các nhà quản lý nhân sự, quản trị doanh nghiệp ứng dụng trong tuyển dụng, đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực theo những yêu cầu, chuẩn năng lực tương ứng với đặc trưng của từng lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, trong đó chỉ ra ba thành tố kiến thức về nghề, thái độ đối với nghề và kỹ năng nghề. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và giá trị ứng dụng của hướng nghiên cứu trên, trong những năm gần đây các nhà tâm lý học chuyển sang hướng tiếp cận năng lực thực hiện (gắn với hoạt động nghề nghiệp cụ thể) và đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá năng lực thực hiện các hoạt động nghề nghiệp. Tiêu biểu có nghiên cứu của B. Bloom về chuẩn kiến thức, nghiên cứu của Dave về chuẩn kỹ năng và KenVot với nghiên cứu về chuẩn thái độ.

Sự kết hợp ba chuẩn (kiến thức, thái độ, kỹ năng) tạo nên chuẩn năng lực nghề. Các kết quả nghiên cứu trên được vận dụng vào xác định chuẩn nghề nghiệp, chuẩn năng lực giáo viên. “Chuẩn Giảng viên sư phạm” do Hiệp hội các giảng viên sư phạm Mỹ ban hành (The Association of Teacher Educators 2008) đưa ra những yêu cầu về chuẩn giảng dạy (chuẩn 1): Giảng dạy mẫu mực sao cho người học thấy rằng kiến thức, kỹ năng và thái độ về nội dung và nghiệp vụ phản ánh tinh thần nghiên cứu, sự thông thạo về công nghệ và đánh giá, cùng những thông lệ tốt nhất được chấp nhận trong đào tạo giáo viên [101, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ