Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái quát chung về Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 1. Hội đồng nhân dân cấp xã Tổ chức bộ máy nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức ở cấp trung ương và cấp địa phương. Cấp trung ương là cấp vĩ mô, tổ chức quản lý toàn bộ lãnh thổ quốc gia; cấp địa phương là cấp cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi tỉnh, huyện, xã tương ứng.
Nếu cấp Trung ương đề ra đường lối, chính sách thì cấp địa phương tổ chức thực hiện đường lối, chính sách ấy trong phạm vi địa bàn của mình. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: - Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); - Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); - Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); - Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. Hội đồng nhân dân được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (lúc đó là Hồ Chí Minh).
Theo sắc lệnh này, Hội đồng 10 nhân dân được thành lập ở cấp xã và tỉnh bằng hình thức bầu trực tiếp của nhân dân. Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân khi đó chỉ 2 năm. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tại Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định: - HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. - HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.
Trong luận văn này, khái niệm HĐND được hiểu theo Điều 113 Hiến pháp năm 2013. Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở xã, có quan hệ trực tiếp đến người dân, là cầu nối đưa mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; là nơi trực tiếp quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Hội đồng nhân dân là cơ quan dân cử tại địa phương, được Nhân dân địa phương bầu ra, hoạt động theo nhiệm kì 5 năm 1 lần.
HĐND được Nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương. Thông qua bầu cử, nhân dân bầu ra “đại diện” cho tiếng nói, quyền lợi của mình, thay mình thực hiện các hoạt động quản lý, duy trì trong đời sống xã hội. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương. Với những đặc điểm này, HĐND chịu trách nhiệm trước Nhân dân – chủ thể bầu ra, và cơ quan nhà nước cấp trên – HĐND cấp trên [28].
11 Căn cứ theo luật định, cấp xã là tên gọi chung của cấp chính quyền cơ sở bao gồm: xã, phường, thị trấn. Trong đó, xã là tên gọi của đơn vị cấp hành chính cơ sở chính quyền nông thôn; phường, thị trấn là tên gọi của đơn vị cấp hành chính cơ sở chính quyền đô thị. Cũng như chính quyền địa phương các cấp, chính quyền địa phương cấp xã bao gồm HĐND cấp xã và UBND cấp xã. Do đặc thù của các đơn vị xã, phường, thị trấn có những điểm phân biệt rõ rệt vì vậy, cơ cấu tổ chức,thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan quyền lực nhà nước ở những đơn vị này cũng có những quy định mang tính đặc thù riêng.
Về cơ cấu tổ chức * Đối với Hội đồng nhân dân xã Hội đồng nhân xã gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở xã bầu ra. Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân xã được thực hiện theo nguyên tắc sau đây: - Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ một nghìn dân trở xuống được bầu mười lăm đại biểu; - Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên một nghìn dân đến hai nghìn dân được bầu hai mươi đại biểu; - Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên hai nghìn dân đến ba nghìn dân được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên ba nghìn dân thì cứ thêm một nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu; - Xã không thuộc quy định theo các nguyên tắc trên có từ bốn nghìn dân trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên bốn nghìn dân thì cứ thêm hai nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu. Thường trực Hội đồng nhân dân xã gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một phó chủ tịch Hội đồng nhân dân. Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là đại biểu hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
12 Hội đồng nhân dân xã thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã do Hội đồng nhân dân xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân xã hoạt động kiêm nhiệm.
* Đối với Hội đồng nhân dân thị trấn Hội đồng nhân dân thị trấn gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở thị trấn bầu ra. Việc xác định tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn được thực hiện tương tự như đối với Hội đồng nhân dân xã. Thường trực Hội đồng nhân dân thị trấn gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một phó chủ tịch Hội đồng nhân dân thị trấn. Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân thị trấn là đại biểu hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách Hội đồng nhân dân thị trấn thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội.
Ban của Hội đồng nhân dân thị trấn gồm Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân thị trấn quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của Hội đồng nhân dân thị trấn hoạt động kiêm nhiệm. Về nhiệm vụ, quyền hạn: Hội đồng nhân dân xã: theo Điều 33 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã: - Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã.
- Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã. 13 - Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Ủy viên Ủy ban nhân dân xã. - Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của xã trong phạm vi được phân quyền.
- Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp. - Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân xã bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 89 của Luật này. - Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân xã và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu. - Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã [30].
Hội đồng nhân dân thị trấn: theo Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 tại điều 68 quy định: - Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân thị trấn. - Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của Hội đồng nhân dân thị trấn; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân thị trấn. - Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách thị trấn; điều chỉnh dự toán ngân sách phường trong trường hợp 14 cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách thị trấn. Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn theo quy định của pháp luật.