CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Bối cảnh thực tiễn Năm 2023, nền kinh tế được thực hiện và tăng trưởng theo các mục tiêu quốc gia trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường. Thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn; trong đó có những yếu tố phức tạp mới, cộng hưởng với những vấn đề kéo dài từ các năm trước đã tác động khá toàn diện, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của nền kinh tế. Hậu quả của đại dịch COVID-19 vẫn còn và tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp.
Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, toàn diện hơn với mức độ đối đầu, xu hướng phân tuyến, phân cực ngày càng rõ nét, nhất là cuộc xung đột Nga - Ucraina và tại dải Gaza diễn biến phức tạp. An ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng gặp nhiều thách thức; thiên tai, hạn hán, bão lũ, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng. Kinh tế thế giới có phục hồi nhưng còn đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức. Nhiều quốc gia tăng trưởng chậm lại, nhu cầu suy giảm, tác động trực tiếp tới các quốc gia có độ mở kinh tế lớn, trong đó có Việt Nam.
Lạm phát tuy đã hạ nhiệt nhưng vẫn còn ở mức cao, nhiều nền kinh tế lớn duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt. Thương mại, tiêu dùng và đầu tư quốc tế suy giảm; hàng rào bảo hộ, phòng vệ thương mại gia tăng, xuất hiện những cơ chế, tiêu chuẩn, kỹ thuật mới liên quan đến phát triển “Xanh”, phát triển bền vững, ảnh hưởng đến xuất khẩu của nhiều quốc gia. Nợ công toàn cầu tăng mạnh; các thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản quốc tế tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi, quy mô còn khiêm tốn, độ mở lớn, khả năng cạnh tranh và sức chống chịu từ các cú sốc bên ngoài còn hạn chế; chịu tác động của nhiều yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập bên trong kéo dài nhiều năm; các yếu tố nền tảng như thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ.
đang trong quá trình cải thiện nhưng còn thấp so với yêu cầu thực tế. Dịch bệnh, thiên tai, hạn hán, bão lũ diễn biến phức tạp, gây thiệt hại nặng ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, nhờ sự vào cuộc quyết liệt, chủ động, tích cực, đồng hành, phối hợp 1 chặt chẽ, kịp thời, và sát thực tiễn của Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương; sự ủng hộ, tham gia tích cực của dân chúng, cộng đồng doanh nghiệp, cùng sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, tình hình kinh tế xã hội nước ta tiếp tục xu hướng phục hồi, cơ bản đạt được mục tiêu tổng quát đề ra và nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, tiếp tục là điểm sáng quan trọng của kinh tế thế giới. Ngày 17/11/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu; và Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch tích hợp vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn 2050 vào ngày 28/02/2022, làm cơ sở để quy hoạch và định hình lại quá trình sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội ĐBSCL trên cơ sở phát triển bền vững, biến thách thức thành cơ hội, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng gia tăng hiệu quả, phát triển từ phân tán sang tập trung, tăng cường liên kết ĐBSCL với TP.
Hồ Chí Minh và Đông Nam bộ,…Và Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến 2030, tầm nhìn đến 2045, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với Vùng. Đây là các cơ sở chính trị quan trọng cho sự ra đời của các cơ chế, chủ chương, chính sách để khai thác và phát huy ở mức cao nhất các tiềm năng, lợi thế cho sự phát triển nhanh và bền vững toàn vùng và của mỗi địa phương trong vùng ĐBSCL trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo “Báo cáo Kinh tế ĐBSCL năm 2022” của VCCI và Fulbright, ĐBSCL vốn đã tăng trưởng chậm lại từ trước 2019, phải chịu thêm cú sốc nặng nề từ đại dịch COVID-19. Tốc độ tăng trưởng giảm sâu từ 7,14% trong năm 2019 xuống chỉ còn 2,42% trong năm 2020 - thấp hơn đáng kể so với bình quân 2,9% của cả nước, và rơi tiếp xuống -0,43% vào năm 2021.
Trong năm này, khu vực công nghiệp giảm sâu (- 2,26%), thấp hơn hẳn so với mức tăng trưởng 4,05% của cả nước; Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của ĐBSCL năm 2020 là 3,47%, cao thứ hai toàn quốc, chỉ sau Tây Nguyên. Riêng tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn cao gấp đôi so với khu vực thành thị (3,97% so với 1,87%). Nguyên nhân chính là do quá trình cơ giới hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế khiến lao động trong khu vực nông nghiệp chưa đủ năng lực thích nghi, tiếp thu các kiến thức mới để hợp tác, trở nên dôi dư, trong khi khu vực công nghiệp và dịch vụ lại phát triển chậm nên không hấp thụ hết. Bên cạnh đó, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do tác động của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, hạn 2 hán,.
khiến nhiều lao động nông thôn không còn đất để canh tác, lâm vào tình trạng thất nghiệp, mất việc làm; Sự chênh lệch về mức sống và cơ hội việc làm dẫn đến luồng di cư từ ĐBSCL lên các đô thị và khu công nghiệp ở vùng TP. Quá trình này dẫn đến già hóa dân số, gây thiếu hụt nguồn lao động, và gia tăng áp lực về hỗ trợ tài chính cho người già ở nông thôn do không có người chăm sóc. Đại dịch COVID-19 đã tạo ra làn sóng di cư ngược về ĐBSCL, kéo theo sự lây lan dịch bệnh ra các tỉnh thành ĐBSCL và làm tăng gánh nặng xã hội cho các địa phương. Thu nhập bình quân đầu người của ĐBSCL trong năm 2019 là 3,9 triệu đồng/tháng, thấp hơn mức 4,2 triệu đồng/tháng của cả nước.
Mặc dù ĐBSCL có tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (độ rộng của nghèo) giảm mạnh từ 19,5% năm 2016 xuống 8,1% năm 2020, nhưng mức độ thiếu hụt (độ sâu của nghèo) gần như không được cải thiện; ĐBSCL vẫn xếp thứ hai về nghèo đa chiều, chỉ trên khu vực Tây Nguyên. Qua bảng số liệu về “Tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh ĐBSCL năm 2020 và 2021” (Phụ lục 15), đáng chú ý có 6/13 tỉnh có mức tăng trưởng GRDP cao hơn trung bình cả nước (2,91%) bao gồm Long An (5,7%), Vĩnh Long (4,7%), Bạc Liêu (4,1%), Kiên Giang (3,4%), Hậu Giang (3,1%), và Trà Vinh (3%). Tỉnh Long An tuy cùng có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế của ĐBSCL, nhưng không có hệ sinh thái thuỷ sản đa dạng cũng như thế mạnh về chế biến thuỷ sản so với các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Do đó, các địa phương này là phạm vi nghiên cứu tập trung của Luận án.
Bên cạnh đó, ĐBSCL có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo (14,9%) và tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên (6,8%) thấp nhất cả nước. Đến năm 2020, ĐBSCL vẫn có trên 90% lao động nông nghiệp trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo kỹ thuật và chỉ có 4,3% lao động có trình độ sơ cấp trở lên. Năm 2021, có tới 6/13 tỉnh bị suy thoái kinh tế, nghiêm trọng nhất là Vĩnh Long (-4,55%), Trà Vinh (-3,92%), Cần Thơ (-2,79%), và Cà Mau (-2,68%). GDP của năm 2021 ước tính sụt giảm 0,43% so với năm 2020; Khả năng hấp thụ vốn của ĐBSCL của năm 2020 đã giảm từ 14,9% năm 2019 xuống chỉ còn 7,2%, và tốc độ tăng tín dụng cũng giảm từ 14,3% năm 2019 xuống 10,6%, thấp hơn hẳn so với mặt bằng chung của cả nước.
Hoạt động của các hộ kinh doanh cá thể và khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn, kéo theo nhu cầu tín dụng ngắn hạn cho vốn lưu động, nhưng nguồn vốn huy động chỉ đủ đáp ứng trên dưới 80% nhu cầu tín dụng, thấp hơn so với năm 2019. 3 Trong năm 2022 và 2023, các thách thức, khó khăn trên đã tác động lẫn nhau và gây ra nhiều vòng xoáy đi xuống, làm nền kinh tế nói chung và nông nghiệp của vùng ĐBSCL nói riêng, trong đó có ngành Thuỷ sản đã đóng góp rất lớn vào RGDP thông qua kim ngạch xuất khẩu thủy sản, cụ thể ngành chế biến thuỷ sản theo bảng số liệu “Giá trị xuất khẩu của các loại thủy sản chính trong 11 tháng năm 2023” từ Vasep (phụ lục 16), rất khó có thể tiếp tục phát huy các tiềm năng, lợi thế cho sự phát triển nhanh và bền vững nếu không có các nghiên cứu sâu về lý thuyết lẫn thực tiễn về các nguồn lực và năng lực của DN trong biến động của thị trường để có được các chính sách, giải pháp chuyển đổi một cách toàn diện hơn.2 Bối cảnh lý thuyết Làm thế nào để các DN duy trì tiềm lực và tạo lợi thế cạnh tranh (Rumelt, Schendel và Teece, 1994) để phát triển và đạt kết quả kinh doanh hiệu quả, điển hình là các DN ngành thuỷ sản tại ĐBSCL? Lý thuyết về Doanh nghiệp đã khám phá trong nhiều điều kiện kinh tế khác nhau, các DN có thể đạt một giá trị hoặc có thể không có giá trị nào. Lý thuyết này cung cấp một khuôn khổ thống nhất để nghiên cứu các DN, thị trường và cố gắng tích hợp phần lớn nghiên cứu trước đây về DN. Trong khuôn khổ chung, doanh nghiệp thực hiện một hoạt động tạo giá trị, cụ thể là kết quả kinh doanh, thì tùy thuộc vào các điều kiện kinh tế (Spulber, 2009).
Khả năng đặc biệt của các doanh nghiệp (firm-specific capabilities) trong điều kiện kinh tế biến động còn được nhấn mạnh qua lý thuyết về nguồn lực kỳ vọng (resource-based perspective) và khả năng đặc biệt là yếu tố trọng yếu đối với kết quả kinh doanh (Penrose, 1959; Wernerfelt, 1984). Khả năng đặc biệt của doanh nghiệp đã được xác định bởi Teece và cộng sự (1997); đó là năng lực động kết hợp giữa năng lực và nguồn lực bên trong của doanh nghiệp. Đó chính là nền tảng tạo ra kết quả kinh doanh và lợi thế cạnh trạnh của doanh nghiệp.