Chương 1 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG CHUYÊN NGHIỆP Ở TỈNH YÊN BÁI HIỆN NAY 1. Ý thức pháp luật - khái niệm, cấu trúc, chức năng và con đường hình thành 1.1- Khái niệm ý thức pháp luật Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp và nhà nước. Là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa xã hội, ý thức pháp luật tồn tại khách quan cùng với các hình thái ý thức xã hội khác như: tôn giáo, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, khoa học…và bị quy định bởi trình độ kinh tế - xã hội nhất định. Vì vậy, ý thức pháp luật mang tính khách quan, tính xã hội; nó tồn tại phổ biến trong ý thức cá nhân và toàn xã hội.
Nó phản ánh đời sống pháp luật của xã hội – một bộ phận của tồn tại xã hội. Như vậy, ý thức pháp luật trước hết là sự phản ánh những điều kiện kinh tế - xã hội ở một giai đoạn nhất định của lịch sử, đồng thời nó cũng phản ánh mức độ tác động của giai cấp thống trị đối với xã hội, nghĩa là phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị. Trong sự phát triển của xã hội có giai cấp, ý thức pháp luật phản ánh tính đa dạng, phức tạp của đời sống pháp luật và mong muốn của giai cấp nắm quyền lực để điều chỉnh hành vi xử sự của con người bằng các quy tắc nhằm tạo lập trật tự xã hội nhất định theo ý chí và lợi ích của giai cấp đó. Vậy ý thức pháp luật là gì? Có nhiều câu trả lời về vấn đề này.
Quan niệm thứ nhất khẳng định: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật” [25, tr. Quan niệm này mang tính khái quát cao nhưng chưa phản ánh được kết cấu, chức năng, vai trò của ý thức pháp luật và nhất là chưa chỉ ra nguồn gốc cơ bản hình thành ý thức pháp luật. 7 z Quan niệm thứ hai: thường đi vào nhấn mạnh một mặt của ý thức pháp luật. Thí dụ cho: ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật; là những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật [25,tr 7]; hoặc cho rằng: ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội [25,tr.8]; hoặc nhấn mạnh ý thức của chủ thể pháp luật: ý thức pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật… ý thức pháp luật còn là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật, đó là thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật và phạm tội [25, tr.
Quan niệm thứ ba cho rằng: ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, và hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức [25, tr. Quan niệm này đã chỉ ra được kết cấu, nội dung, tính chất, của ý thức pháp luật. Vì vậy có thể khẳng định: Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội thông qua những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người đối với pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người trong xã hội nhằm bảo vệ trật tự xã 8 z hội hiện hành và các lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền. Ý thức pháp luật phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật, song nó có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội và các hình thái ý thức xã hội khác.
Ý thức pháp luật của một thời đại bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội của thời đại đó, do vậy nó chịu sự quy định của điều kiện vật chất xã hội, khi kinh tế - xã hội chuyển biến thì ý thức pháp luật tất yếu biến đổi theo và làm cho pháp luật biến động. Ý thức pháp luật cũng có thể lạc hậu, chậm biến đổi hơn so với tồn tại xã hội, có thể tồn tại cũ mất đi nhưng ý thức pháp luật vẫn có thể được duy trì trong thời gian dài, đặc biệt là tâm lý pháp luật. Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng pháp luật có thể vượt trước so với tồn tại xã hội, nó thể hiện tính tiên tiến, mở đường cho sự phát triển pháp luật. Ý thức pháp luật mang tính kế thừa sâu sắc.
Nó kế thừa những yếu tố tích cực của ý thức pháp luật thời đại trước đó; cho nên những tư tưởng, quan niệm pháp luật tiến bộ được truyền từ thời đại này qua thời đại khác, được tiếp nhận trao đổi giữa các nước. Ý thức pháp luật có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội. Nó có thể phản ánh đúng và cải tạo xã hội. Ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác, đặc biệt là đối với ý thức đạo đức và ý thức chính trị.
Ý thức pháp luật phản ánh mối quan hệ giữa người với người đối với các quy tắc được chấp nhận trong xã hội nhất định. Ý thức pháp luật chịu sự tác động trực tiếp của ý thức chính trị bởi vì bản chất pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền được thể hiện thành luật lệ. Mỗi chế độ xã hội có giai cấp chỉ có một hệ thống pháp luật duy nhất thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, mặc dù trong xã hội còn có hệ tư tưởng, quan điểm pháp luật của các giai cấp khác, thể hiện ý chí và phản ánh lợi ích riêng của giai cấp đó nhưng đều bị chi phối bởi ý chí của giai cấp cầm quyền. Như vậy trong mối quan hệ với ý thức chính trị, ý thức pháp luật bị 9 z định hướng bởi ý thức chính trị.
Điều này khẳng định tính giai cấp của ý thức pháp luật. Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… Nó phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân, từ đó con người điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội. Ý thức chính trị chi phối ý thức pháp luật, ngược lại ý thức pháp luật phản ánh những yêu cầu của ý thức chính trị dưới góc độ pháp luật. Cả ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đều hướng vào điều chỉnh hành vi con người nên chúng có sự tương hỗ với nhau.
Nhìn chung, ý thức pháp luật, đạo đức, chính trị nằm trong mối quan hệ hữu cơ và đều phản ánh tồn tại xã hội nhất định. Cũng khác với tôn giáo, ý thức pháp luật lại sản phẩm của sự nhận thức lý tính, dù ở trình độ khác nhau nhưng đều có sự sàng lọc của con người về những điều được coi là cần thiết, bắt buộc phải tuân theo trong mọi hoạt động, mọi ứng xử để đảm bảo lợi ích của toàn xã hội, mà trước hết là lợi ích của giai cấp cầm quyền. Ý thức pháp luật khác với ý thức thẩm mỹ ở chỗ, ý thức thẩm mỹ là ý thức về sự thỏa mãn trước cái đẹp. Về cái đẹp có thể có những điểm chung không mang tính bắt buộc đối với tất cả mọi người.
Trong xã hội, khó có một tiêu chuẩn chung về cái đẹp cho mọi người và nó không mang tính cưỡng chế như ý thức pháp luật. Vì thế, ý thức thẩm mỹ, cho phép các cá nhân có sự lựa chọn rộng rãi; điều này khác với ý thức pháp luật. Nhà nước và giai cấp cầm quyền luôn thông qua việc đặt ra quy phạm pháp luật làm chuẩn mực xử sự cho hành vi của mỗi người trong xã hội, tức là áp đặt ý thức pháp luật cho xã hội. Việc không thừa nhận ý thức này có nghĩa là chống lại ý chí của nhà nước và sẽ bị cưỡng chế bằng các chế tài của pháp luật.
Ngày nay, ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa – ý thức pháp luật kiểu mới mà nước ta đang xây dựng mang tính chính trị sâu sắc, thể hiện những nhu cầu về kinh tế, đạo đức và văn hóa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Điều này khẳng định hơn vai trò của việc xây dựng ý thức pháp luật mới trong điều kiện nước ta hiện nay.2 - Cấu trúc của ý thức pháp luật Ý thức pháp luật là hiện tượng chính trị - pháp lý có cơ cấu phức tạp. Căn cứ vào nội dung và tính chất của sự phản ánh, triết học xem ý thức pháp luật có hai cấp độ: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Hệ tư tưởng pháp luật bao gồm các quan điểm, tư tưởng phản ánh đời sống pháp luật một cách sâu sắc và được hình thành một cách tự giác.
Hệ tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh tri giác, có mục đích, có tổ chức, của hoạt động tư duy, là cơ sở hình thành lý luận, học thuyết về nhà nước và pháp luật của một giai cấp nhất định. Hệ tư tưởng pháp luật của một quốc gia bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị.