CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN TỔNG QUAN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Chiều sâu tài chính 1.1 Các khái niệm về chiều sâu tài chính Chiều sâu tài chính là sự gia tăng tỷ lệ giá trị các tài sản tài chính như: tiền gửi, tiền vay, phiếu nợ ngắn hạn, trái phiếu, cổ phiếu, bảo hiểm …so với tổng sản phẩm nội địa. "Rakesh Mohan (2006), Economic Growth, Financial Deepening and Financial inclusion”. Chiều sâu tài chính là biến số giúp dự đoán tăng trưởng kinh tế, một thị trường cạnh tranh và một tỷ lệ lãi suất linh hoạt được mô tả như chiều sâu tài chính.Udo Ndebbio Department of economics Unversity of Calaba, Calaba Nigeria (2004), Financial Deepening, Economic Growth and development‘. Chiều sâu tài chính là một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên bởi các chuyên gia phát triển kinh tế.
Nó đề cập đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế.org/wiki/Financial_deepening Chiều sâu tài chính cho biết mức độ phát triển của tài chính, nó phản ánh mức độ tiền tệ hóa nền kinh tế. Vũ Thị Minh Hằng (2010), Thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trên đường hội nhập – Nhà Xuất Bản Lao Động ” 1.2 Các nhân tố quyết định chiều sâu tài chính 1.1 Các định chế tài chính trung gian : Các định chế tài chính trung gian được ví như những chiếc cầu nối giữa nguồn cung và cầu vốn trong nền kinh tế. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các định chế tài chính trung gian đã kết nối được các nguồn vốn tiết kiệm trong xã hội từ các hộ gia đình, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp … ở khắp nơi trong và ngoài nước để truyền dẫn đến địa chỉ cần sử dụng vốn từ chính phủ, doanh nghiệp cho đến các tổ chức kinh tế, với các yêu cầu về sử dụng vốn ngắn hạn, trung và dài 6 hạn. Sự truyền dẫn này được thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả trên thị trường tài chính.
Trên thị trường tài chính, các tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các quỹ hưu trí thường được gọi với một tên gọi đặc biệt : các định chế tài chính trung gian. Vai trò của chúng là huy động được các nguồn vốn bằng cách phát hành quyền truy đòi ra công chúng, sau đó chúng quay vòng và sử dụng số tiền này để mua chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu hoặc những công cụ tài chính không được mua bán như các khoản tín dụng tiêu dùng và tín dụng thương mại. Các định chế tài chính trung gian cũng giống như các loại hình công ty khác đều được thúc đẩy bởi động cơ lợi nhuận. Trong quá trình chuyển thành lợi nhuận, họ tình cờ đạt được một mục tiêu kinh tế quan trọng, đó là giúp di chuyển nguồn vốn từ người cho vay đến người đi vay.
Có thể phân loại các tổ chức trung gian tài chính theo 2 nhóm lớn: Các ngân hàng trung gian – thông thường đó là các ngân hàng thương mại, và định chế tài chính phi ngân hàng. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. - Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. - Ngân hàng thương mại phát hành phiếu nợ khi đi vay và phát hành phiếu tín dụng khi cho vay, ngân hàng thu nhận vốn bằng cách bán những tài sản nợ rồi dùng vốn này để mua những tài sản có (cho vay, đầu tư vào các giấy tờ có giá…) mang lại thu nhập.
Bất cứ giao dịch tài chính nào cũng tạo ra sản phẩm tài chính mà đối với người sở hữu thì nó là một tích sản và đối với người phát hành thì nó là một tiêu sản. Sản phẩm tài chính (hay tài sản tài chính) phản ánh hoặc là trái quyền, hoặc dưới dạng một nguồn thu nhập, hoặc dưới dạng tiền vốn (hiện vật hay tài sản). 7 - Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển thị trường tài chính, cả đối với thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Trên thị trường tài chính các ngân hàng tham gia hoạt động với tư cách là người phát hành và bán cổ phiếu của mình (ngân hàng cổ phần), hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp, của các ngân hàng khác và của Nhà nước, tức là với tư cách của một nhà đầu tư bình thường trên thị trường.
Đồng thời và quan trọng hơn các ngân hàng tham gia thị trường với chức năng môi giới ăn hoa hồng hoặc chức năng kinh doanh các chứng khoán. Hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò chi phối trên thị trường tài chính. Thị trường cổ phiếu đã được chú ý phát triển trong thời gian gần đây, tuy nhiên, ở một số nước, qui mô thị trường cổ phiếu vẫn rất hạn chế. Mức độ vốn hoá trên thị trường cổ phiếu ở Indonesia 2008 là 19,3%; Phillipin là 31%, Thái lan là 37,7%, con số này ở Việt Nam năm 2008 là 10,6% GDP, năm 2009 là 38%.
Thêm vào đó là tính thiếu ổn định cả về qui mô và về chỉ số giá của các thị trường này, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng chưa phát triển. Những bất cập này đã hạn chế việc đa dang hoá hoạt động của hệ thống ngân hàng, các định chế tài chính. Cùng với những bất ổn vĩ mô, các định chế tài chính – ngân hàng các nước này thường phải đối mặt với các rủi ro về quản lý kỳ hạn, rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái, trong khi sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro còn rất sơ khai. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng có nhiều loại hình khác nhau nhưng đều hoạt động theo một nguyên tắc chung đó là: dựa vào nguồn vốn vay mượn để cung ứng tín dụng và các dịch vụ khác cho khách hàng. Còn để vay vốn khách hàng, định chế tài chính phải cam kết cung ứng những dịch vụ khác nhau mà khách hàng yêu cầu. Các định chế tín dụng phi ngân hàng phổ biến ở các nước bao gồm: Công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty đầu tư, công ty cho thuê tài chính. 8 Công ty tài chính: Là công ty cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và người tiêu thụ với nhiều mục đích khác nhau như hỗ trợ sản xuất và tiêu dùng.
Công ty tài chính có thể huy động vốn dưới các hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, phát hành trái phiếu, phát hành cổ phiếu (nếu là công ty tài chính cổ phần). Công ty tài chính tài trợ cho các doanh nghiệp bằng việc cấp tín dụng trung và dài hạn để mua máy móc thiết bị, tài trợ các khoản phải thu của doanh nghiệp mua nợ của họ với hình thức bao thanh toán. Các tập đoàn kinh doanh, khi đã đủ lớn mạnh thường đẻ ra cho chính mình một công ty tài chính. Các công ty tài chính này ngoài nhiệm vụ huy động tài chính cho công ty mẹ, chức năng còn lại của nó là kinh doanh tiền tệ.
Hệ thống này nằm ngoài hệ thống ngân hàng, nhưng cũng cung cấp tín dụng cho sản xuất, ngoài ra còn cung cấp tín dụng tiêu thụ. Đây là một loại hình chế tài chính trung gian thực hiện các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng và phải đảm bảo bằng tài sản hữu hình. Về tín dụng sản xuất, nhiều công ty tài chính chuyên cung cấp tín dụng cho những nhà công nghiệp mua máy móc, trang thiết bị và dùng những tài sản đó như một vật cầm thế. Số tiền vay được hoàn trả lại theo định kỳ đã được định trước.
Ưu thế của công ty tài chính là dựa vào sự hiểu biết chuyên môn về ngành công nghiệp được vay hoặc dựa vào sự tiếp xúc cá nhân người vay. Một vài công ty tài chính ở các nước còn liên kết với những đại lý bán lẻ và cung ứng vốn cho họ để họ bán hàng trả chậm cho các xí nghiệp nhỏ và vừa huy động vốn để mua bán thiết bị máy móc do chính công ty mẹ sản xuất. Đây là chính sách kinh doanh hai đầu thường thấy ở các công ty hoặc tập đoàn sản xuất lớn. Công ty tài chính ngày nay còn đối đầu với sự gia tăng cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, cùng các tổ chức cho vay khác.
Do áp lực về giá cả và cạnh tranh, các loại hình công ty 9 tài chính đã phải đa dạng hóa hoạt động nhằm thâm nhập cùng một lúc vào cả hai thị trường cho vay đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng. Cũng có khuynh hướng là liên kết, hợp nhất giữa các công ty tài chính nhằm giảm thiểu số lượng các công ty độc lập và tránh phụ thuộc thêm vào công ty mẹ. Khuynh hướng chính là hướng đến những tổ chức tài chính lớn hơn, đa dạng hơn với nhiều dịch vụ tín dụng từ khoản cho vay nhỏ bé đối với từng người tiêu dùng đến những nghiệp vụ cho vay và cho thuê cực kỳ lớn đối với các doanh nghiệp tầm cỡ. Không những loại hình cho vay của công ty tài chính đã thay đổi mà những nguồn vốn để cho vay cũng đã chuyển hướng.
Công ty tài chính có nhiều nguồn vốn, quan trọng nhất là phát hành trái phiếu và cổ phiếu, vốn của công ty mẹ cấp cho công ty, các khoản vay ngân hàng và các kỳ phiếu ngắn hạn khác. Công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm ra đời bắt nguồn từ nhu cầu hạn chế rủi ro trong sản xuất, kinh doanh và đời sống. Chức năng chủ yếu của nó là phòng ngừa sự mất ổn định trong đời sống kinh tế xã hội, khắc phục những rủi ro hoặc đền bồi cho những tai nạn bất ngờ. Nguyên tắc hoạt động của công ty bảo hiểm là huy động sự đóng góp của nhiều người để bồi thường cho một số người khác gặp tai nạn hay rủi ro.