CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, ngân hàng muốn tồn tại và phát triển phải đề ra những phương án sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả, vì vậy an toàn trong hoạt động tín dụng là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu và đặt lên cao nhất không chỉ ở nước ta mà là ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Hoạt động cho vay của ngân hàng luôn luôn tiềm ẩn rủi ro, do đó vấn để bảo đảm tiền vay luôn được các ngân hàng quan tâm trong suốt quá trình kinh doanh của mình. Nếu tài sản đảm bảo được định giá quá thấp so với giá trị thực tế, điều này sẽ dẫn đến giảm mức cấp tín dụng tối đa, làm giảm doanh thu của Ngân hàng cũng như không đáp ứng được nhu cầu vay của khách hàng.
Ngược lại, nếu giá trị tài sản đảm bảo được định giá cao hơn so với giá thị trường, rủi ro sẽ xuất hiện nếu khách hàng không đủ khả năng thanh toán và tài sản bảo đảm không không đủ để bù đắp tổn thất mà Ngân hàng phải gánh chịu. Trong thời gian qua, nhiều Nghị định, Thông tư đã được ban hành, hướng dẫn việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản, đáp ứng được sự mong đợi của các Ngân hàng trong quá trình thẩm định tài sản bảo đảm, góp phần hạn chế rủi ro trong cho vay. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cho vay bảo đảm bằng tài sản nói chung và công tác thẩm định tài sản đảm bảo nói riêng đã nảy sinh một số vướng mắc. Xuất phát từ suy nghĩ trên, em đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác thẩm định tài sản đảm bảo phục vụ cho vay tại Ngân hàng TMCP Công thương- Chi nhánh Đô Thành” làm nội dung nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến thẩm định giá tài sản đảm bảo trong cho vay tại các NHTM Phân tích, đánh giá thực trạng công tác thẩm định giá tài sản đảm bảo trong cho vay tại Ngân hàng TMCP Công Thương, chi nhánh giao dịch Đô Thành. Khuyến nghị hoàn thiện công tác Thẩm định giá tài sản đảm bảo cho vay tại Ngân hàng TMCP Công Thương. Đối tượng nghiên cứu Những lý luận về công tác thẩm định giá tài sản đảm bảo trong cho vay tại NHTM và thực trạng công tác thẩm định giá tài sản đảm bảo trong cho vay tại ngân hàng TMCP Công thương, Chi nhánh giao dịch Đô Thành. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định giá tài sản đảm bảo trong cho vay tại Ngân hàng TMCP Công thương.
Về không gian: Ngân hàng TMCP Công Thương, Chi nhánh giao dịch Đô Thành. Về thời gian: Trong giai đoạn từ năm 2016 – 2018 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp được thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm: Phương pháp thu thập, tổng quan tài liệu, phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu và xử lý thông tin, phương pháp phân tích, suy luận logic, phương pháp so sảnh, thống kê mô tả, và một số phương pháp kinh tế khác có liên quan. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Về mặt lý luận: Đề tài hệ thống lại một cách khoa học cơ sở lý luận về nội dung thẩm định giá tài sản đảm bảo, tạo nền tảng cho việc nghiên cứu thực tiễn công tác thẩm định giá tài sản đảm bảo trong cho vay tại đơn vị nghiên cứu một cách logic.
Về mặt thực tiễn: Tác giả sẽ đưa ra các khuyễn nghị cụ thể, thiết thưucj gắn liện với thực tế hoạt động của đơn vị công tác. Qua đó,các Ngân hàng có thế vận dụng nghiên cứu này để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động thẩm định giá tại các Ngân hàng. 4 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI SẢN ĐẢM BẢO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 2.
Khái niệm tài sản bảo đảm Bảo đảm tiền vay là việc các tổ chức tín dụng như Ngân hàng, Công ty Tài Chính, Công ty bảo hiểm áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Cho vay được bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay khách hàng hoặc tài sản của bên thứ ba. Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản của khách hàng vay, tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản của bên bảo lãnh dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với tổ chức tín dụng. Theo bộ luật Dân sự 2015: tổ hợp từ điều 295, 297, 298, 303, 310, 326, các tài sản có thể được sử dụng làm tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự gồm: vật (hiện đang sở hữu hoặc sẽ được hình thành trong tương lai), tiền và tương đương tiền, giấy tờ có giá, quyền về tài sản.
Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để đảm bảo nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm. TSBĐ do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền. TSBĐ có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch, Tài sản hình hành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm.
Như vậy, TSBĐ là tài sản của bên đi vay hoặc bên bảo lãnh cho bên đi vay dùng để thực hiện nghĩa vụ của bên đi vay trong quá trình vay vốn. TSBĐ có thế là tài sản 5 hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, được phép giao dịch và thuộc sở hữu của bên bảo đảm Qua khái niệm về TSBĐ, ta đã rút ra được một số các đặc điểm của TSBĐ tại NHTM như sau: - Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là sự thoả thuận giữa các bên tạo lập quan hệ tín dụng về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm cụ thể được pháp luật quy định. Nói chung, thoả thuận này phảo bằng văn bản và có thể viết thành một hợp đồng riêng hoặc kèm theo hợp đông tín dụng có sẵn. Như vậy, TSBĐ không phải là bắt buộc mà là sự tự do thoả thuận giữa các bên của hợp đồng tín dụng Ngân hàng.
Sở dĩ TSBĐ đa số phát sinh trên cơ sở thảo luận là vì cá TSBĐ tồn tại bên cạnh nghĩa vụ mà có bảo đảm với tính chất là hợp đồng phụ, là những khuôn mẫu định hướng cho việc áp dụng, vì thế đòi hỏi áp dụng trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận. - TSBĐ tiền vay chỉ mang tính dự phòng: Tính dự phòng thể hiện ở chỗ, TSBĐ được sử dụng để khấu trừ nghĩa vụ khi người đi vay không thực hiện hoặc thực hiên không đúng nghĩa vụ hoàn trả tiền vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng ngân hàng. Tính dự phòng này nhằm mục đích thúc đẩy người đi vay thực hiện đúng nghĩa vụ bằng cách dựa vào quy định của pháp luật hoặc vào sự giao kết của hai bên nghiac vụ trong hợp đồng. - Phạm vi giá trị TSBĐ không vượt quá phạm vi mà các bên đã thoả thuận hợp đồng bảo đảm tiền vay, hợp đồng tín dụng: Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Nếu không có thoả thuận được sắp xếp và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ được coi như bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lại và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Như vậy, phạm vi bảo đảm nghĩa vụ này thay đổi tuỳ thuộc và sự thoả thuận cụ thể của các bên trong hợp đồng tín dụng và nó khong vượt quá phạm vi nghĩa vụ được xác định trong hợp đồng đó. Phân loại tài sản bảo đảm a. Phân loại TSBĐ theo hình thức bảo đảm tiền vay • Tài sản cầm cố 6 - Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và các tài sản có giá trị khác.
- Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản gửi lại cung ứng dịch vụ thanh toán bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ. - Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, các giấy tờ có giá trị được quy ra bằng tiền. Riêng đối với cổ phiếu của tổ chức tín dụng phát hành, khách hàng vay vốn không được cầm cố tại chính tổ chức tín dụng đó. - Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhân số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc các căn cứ pháp lý khác.
- Quyền đối với phần vốn góp nước ngoài trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. - Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật. - Tàu biển theo quy định của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam tàu bay theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố. - Tài sản hình thành là bất động sản được hình thành sau thời điểm kí kết giao dịch cầm cố sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các tài sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận.
- Các tài sản khác theo quy định theo quy định cua pháp luật. - Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố, nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định, trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiển cũng thuộc tài sản cầm cố.