Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện pháp nâng cao năng suất cam sành tại Thái Nguyên

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng cam sành Bố Hạ tại Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

218
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Giới thiệu chung về cây ăn quả có múi

1.1.1. Nguồn gốc, phân loại

2. MỞ ĐẦU

2.1. Tính cấp thiết

2.2. Mục tiêu của đề tài

2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài

2.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2.4. Phạm vi nghiên cứu

2.4.1. Thời gian nghiên cứu

2.5. Những đóng góp mới của luận án

3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm và vật liệu nghiên cứu

3.1.1. Địa điểm nghiên cứu

3.1.2. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

3.1.3. Thời gian nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.2.1. Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống cam sành Bố Hạ

3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cam sành Bố Hạ

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của giống cam sành Bố Hạ

3.3.2. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cam sành Bố Hạ

3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của cam sành Bố Hạ

4.1.1. Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái của giống cam sành Bố Hạ

4.1.2. Kết quả nghiên cứu đa dạng di truyền của cam sành Bố Hạ bằng chỉ thị phân tử ISSR và RADP

4.1.3. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng các đợt lộc của giống cam sành Bố Hạ

4.1.4. Kết quả nghiên cứu nguồn gốc phát sinh và mối liên hệ giữa các đợt lộc ở cây cam sành Bố Hạ

4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cam sành Bố Hạ

4.2.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của cắt tỉa đến sinh trưởng và năng suất cây cam sành Bố Hạ

4.2.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến năng suất, chất lượng cây cam sành Bố Hạ

4.2.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm bón lá đến năng suất, chất lượng cam sành Bố Hạ

4.2.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và thời vụ ghép đến sự sinh trưởng của cam sành Bố Hạ

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Đặc điểm nông sinh học của cây cam sành Bố Hạ

5.2. Một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng quả của cây cam sành Bố Hạ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cam sành tại Thái Nguyên

Cây cam sành Bố Hạ, một giống cây có múi nổi tiếng, đã được trồng tại Thái Nguyên với mục tiêu nâng cao năng suất cam sànhchất lượng cam sành. Việc nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của giống cam này là rất cần thiết để phục hồi và phát triển giống cây này. Theo các nghiên cứu trước đây, cam sành Bố Hạ có nguồn gốc từ miền Bắc Việt Nam và đã từng là giống cam số 1 của đất nước. Tuy nhiên, do sâu bệnh và kỹ thuật canh tác lạc hậu, sản lượng cam sành đã giảm sút nghiêm trọng. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiện đại trong nghiên cứu nông sinh học sẽ giúp cải thiện tình hình này.

1.1. Tình hình sản xuất cam sành tại Thái Nguyên

Tại Thái Nguyên, diện tích trồng cam sành đã giảm đáng kể trong những năm qua. Nhiều nông dân đã chuyển đổi sang các loại cây trồng khác do hiệu quả kinh tế thấp. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ từ các nghiên cứu khoa học, việc phục hồi và phát triển cây cam sành Bố Hạ có thể mang lại lợi ích kinh tế cao cho người dân. Các biện pháp như kỹ thuật canh tácquản lý cây trồng cần được áp dụng để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc này không chỉ giúp tăng thu nhập cho nông dân mà còn góp phần bảo tồn giống cam sành Bố Hạ, một phần di sản văn hóa nông nghiệp của địa phương.

II. Nghiên cứu nông sinh học và biện pháp kỹ thuật

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các đặc điểm nông sinh học của giống cam sành Bố Hạ và các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suấtchất lượng cam sành. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích di truyền, đánh giá sinh trưởng và phát triển của cây cam sành trong điều kiện khác nhau. Kết quả cho thấy, việc áp dụng các chế phẩm bón lá và kỹ thuật cắt tỉa hợp lý có thể cải thiện đáng kể năng suất và chất lượng quả. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học trong sản xuất nông nghiệp.

2.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cam sành

Đặc điểm sinh trưởng của cam sành Bố Hạ rất đa dạng, bao gồm khả năng chịu đựng sâu bệnh và điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Nghiên cứu cho thấy, cây cam sành có khả năng phát triển tốt trong điều kiện đất đai màu mỡ và được chăm sóc đúng cách. Việc áp dụng các biện pháp như phân bón hữu cơquản lý nước tưới sẽ giúp cây phát triển mạnh mẽ hơn. Hơn nữa, việc nghiên cứu về bệnh hại cây cam cũng rất quan trọng để có thể đưa ra các giải pháp phòng ngừa hiệu quả, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

III. Kết luận và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiện đại trong sản xuất cam sành Bố Hạ tại Thái Nguyên là rất cần thiết. Các biện pháp như kỹ thuật canh tác, quản lý cây trồng, và bón phân hợp lý đã chứng minh hiệu quả trong việc nâng cao năng suấtchất lượng cam sành. Để đạt được kết quả tốt nhất, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, nông dân và các cơ quan chức năng trong việc triển khai các giải pháp này. Việc bảo tồn và phát triển giống cam sành Bố Hạ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa nông nghiệp của địa phương.

3.1. Đề xuất các biện pháp thực hiện

Để nâng cao hiệu quả sản xuất cam sành, cần thiết phải xây dựng các chương trình đào tạo cho nông dân về kỹ thuật canh tácquản lý cây trồng. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để khuyến khích nông dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới. Việc nghiên cứu và phát triển các giống cam mới có khả năng chống chịu sâu bệnh cũng là một hướng đi quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng cam sành tại Thái Nguyên.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng cam sành bố hạ trồng tại thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu chung về cây ăn quả có múi 1. Nguồn gốc, phân loại 1. Nguồn gốc và phân bố Cây cam sành thuộc nhóm cây ăn quả có múi (Citrus), họ Rutaceace có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya, Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippine, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo đến lục địa châu Úc [13], [41], [66], [75], [77], [76].

Theo một số báo cáo của Raymond P., (1998) [93] nhận định tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng. Tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại. Loài chanh yên, phật thủ (Citrus medica) có nguồn gốc tại miền Nam Trung Quốc, là loài cây ăn quả được mang đến trồng tại Địa Trung Hải và Bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ I sau Công Nguyên. Những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này ở Bắc Phi đến mức làm nhiều người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây.

Các loài chanh vỏ mỏng (Lime, C. auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc và miền Tây Ấn Độ, sau đó được các thuỷ thủ đi biển mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải và châu Âu. Các loài chanh núm (Lemon, Citrus lemon) chưa xác định được nguồn gốc, nhưng những kỹ thuật di truyền hiện đại gần đây cho thấy có thể chanh núm là con lai tự nhiên giữa Citrus medica và Citrus aurantifolia, chính vì vậy mà chanh núm có dạng hình thái trung gian giữa hai loại vừa kể trên. Chanh núm được xác định sử dụng như một loại quả sớm nhất vào năm 1150 ở Bắc Phi, vùng biển Địa Trung Hải và châu Âu.

Cam ngọt (Citrus sinensis L.) được xác định có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonecia, sau đó được mang về trồng ở 6 châu Âu, Địa Trung Hải, châu Phi từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 [35]. Giống cam nổi tiếng thế giới "Washington Navel", ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là dạng đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Bahia Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1824, ở Florida (Mỹ) năm 1835, ở Califolia năm 1870 và sau đó ở Washinhton, nó trở nên rất nổi tiếng với tên gọi cam Washinhton Navel [32]. Giống Washinhton Navel được du nhập và trồng ở khắp các vùng cam quít trên thế giới. Theo tác giả Bùi Huy Đáp, 1960 [13] và Walter Reuther và cs, 1989 [86], các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo có nguồn gốc ở Malaysia, Ấn Độ, một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở vùng biển Caribe, sau đó bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau Công Nguyên và tiếp theo mới đến các nước ở châu Âu.

Bưởi chùm (Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên của bưởi (Citrus grandis), xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền Tây Ấn Độ, tiếp theo là trồng ở Bang Florida (Mỹ) vào năm 1809, sau đó lan rộng và trở thành một trong những sản phẩm quả chất lượng cao ở châu Mỹ. Các giống quýt cũng được xác định có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, gồm miền Nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, sau đó được những người đi biển mang đến trồng ở Ấn Độ. Quýt (Citrus reticulata) được trồng ở vùng Địa Trung Hải, châu Âu và châu Mỹ muộn hơn so với các loài quả có múi khác, vào khoảng năm 1805. Theo một số tài liệu cho thấy, cam quýt có nguồn gốc miền Nam châu Á.

Sự lan trải của cam quýt trên thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây [24]. Phân loại Theo hệ thống phân loại của Hodgson R. Cam chua (Citrus aurantinum L. Osbeck) có nguồn gốc ở Đông Nam châu Á, có khả năng ở Ấn Độ.

Cam chua không ngừng được đưa về hướng Tây ở thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên (vào khoảng năm 700), liên quan đến sự sâm chiếm của người Ả Rập tới Bắc Phi và Tây Ban Nha. Cam ngọt (Citrus sinensis L. Obsbeck) có nguồn gốc miền Nam Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Indonesia. Loài này được tìm thấy ở Iran khi Alexander của Macedonia tới châu Á (khoảng 330 năm trước Công nguyên) rối sau đó nhập nội vào châu Âu bởi người La Mã.

Cam ngọt được chia thành nhiều nhóm giống như cam Navel, cam Valencia, cam vàng, cam máu… [77]. Cam sành, theo phân loại của tác giả Hume H. 1957 [77], thuộc giới Plantae, ngành Anginospermae, lớp Eudicots, bộ Sapindales, họ Rutaceae, chi Citrus, loài Citrus reticulata × Citrus maxima. cam sành có nguồn gốc từ Việt Nam và được gắn nhiều tên khoa học khác nhau như Citrus nobilis; Citrus reticulata hay Citrus sinensis.

Trên thực tế, cam sành là giống lai tự nhiên giữa loài Cỉtus reticulata với loài Citrus sinensis (tên tiếng Anh là King mandarin). cam sành là một trong những cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam, sản phẩm cam sành được gắn liền với tên địa danh trồng trọt. Ở miền Bắc có cam sành Bố Hạ (Yên Thế - Bắc Giang (hiện nay vùng cam này đã bị xoá sổ do bệnh vàng lá Greening), cam sành Bắc Quang (Hà Giang); cam sành Hàm Yên (Tuyên Quang), đây là vùng những cam chủ yếu của các tỉnh phía Bắc, ngoài ra còn một số vùng trồng tập trung nhưng diện tích nhỏ hơn như ở Yên Bái, Bắc Kạn, Nghệ An., quả được thu hoạch vào dịp Tết Nguyên Đán và vỏ quả có màu vàng cam [18]. Tại miền Nam, cam sành được trồng nhiều ở Tam Bình, Trà Ôn (Vĩnh Long), Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang); Mỹ Khánh, Ô Môn (Cần Thơ)., quả thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm, vỏ quả có màu xanh sẫm [6].

Đặc điểm thực vật cây có múi 8 1. Đặc điểm rễ Rễ cam quýt nói chung thuộc loại rễ nấm. Nấm Micorhiza sống cộng sinh trên lớp biểu bì của rễ, có vai trò như những lông hút ở các cây trồng và thực vật khác, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây, cây cung cấp hydrate carbon cho nấm [42], [49]. Vì rễ cam quýt chủ yếu là rễ bất định, phân bố rất nông (cách mặt đất khoảng 10 - 30 cm) và phân bố tương đối rộng và tập trung ở tầng đất mặt nên cam quýt không ưa trồng sâu.

Tuy nhiên, mức độ phân bố sâu hay rộng của rễ cam quýt phụ thuộc vào loại đất, đặc tính của giống, cách nhân giống, chế độ chăm bón, tầng canh tác và mực nước ngầm. Đặc biệt là biện pháp kỹ thuật canh tác như làm đất, bón phân, phương pháp nhân giống, giống gốc ghép và giống cây trồng. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thế Tục năm 1990 [45] về sự phát triển của bộ rễ cam trên một số loại đất ở vùng Phủ Quỳ (Nghệ An) đã nhận xét rằng: “Trên ba loại đất trồng cam gồm đất bazan, đất phiến thạch, đất dốc tụ thì thấy trên đất bazan rễ cam ăn sâu và xa nhất. Cùng trồng trên một loại đất và cùng có chế độ chăm sóc, các giống cam khác nhau có sự phân bố bộ rễ khác nhau.

Giống cam có bộ tán khoẻ tương ứng có bộ rễ phát triển tốt và ngược lại”. Nhìn chung, rễ cam quýt hoạt động mạnh ở thời kỳ 1 - 8 năm tuổi sau trồng, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém. Trong một năm cam quýt có 3 thời kỳ rễ hoạt động mạnh, gồm: Trước khi ra cành xuân (tháng 2 đến đầu tháng 3), sau rụng quả sinh lý lần 1 (lúc cành hè xuất hiện) và thời kỳ cành thu đã sung sức (tháng 9-10). Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ cam quýt gồm có: nhiệt độ thích hợp trên dưới 26 oC; đất thoáng và đủ ẩm (60%) có pH khoảng 4 - 8 và tối thích là 5,5 - 6,5, nhiều mùn, đủ dinh dưỡng, đủ chất kích thích sinh trưởng.

Đặc điểm thân, cành Đặc điểm thân, cành của cam quýt tùy thuộc vào từng giống, tuổi cây, điều kiện sinh sống, hình thức nhân giống mà có chiều cao và hình thái khác nhau. Tán 9 cây cam quýt rất đa dạng, có loại tán thưa, có loại tán rộng, có loại phân cành theo hướng ngang, có loại phân cành theo hướng ngọn, có loại tán hình cầu, hình bán cầu, hình tháp, có loại tán hình chổi xể. Cành cam quýt có thể có gai hoặc không có gai, có thể khi còn non thì có gai và gai bị rụng khi về già… [30]. Cam quýt có thể ra nhiều đợt lộc trong một năm tùy thuộc vào từng vùng sinh thái, tuổi cây và những tác động của biện pháp kỹ thuật… [30], [53].

Thông thường, cam quýt có từ 2 - 4 hoặc 5 đợt lộc mỗi năm. Loại cành mẹ và số đợt lộc trong năm liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm. Ở những loài cây càng nhiều đợt lộc trong năm, tuổi thuần thục của cành mẹ để có thể sinh ra cành quả càng ngắn thì hiện tượng ra quả cách năm càng ít hoặc không có, đó cũng là lý do có thể giải thích vì sao quất và một số giống chanh có thể cho quả quanh năm [48]. Cành cam quýt sau khi mọc một thời gian, khi đã gần đến độ thuần thục thì tại các đỉnh sinh trưởng có hiện tượng các auxin giảm đột ngột làm cho các tế bào đỉnh sinh trưởng ngừng phân chia, phần mô ở đỉnh sinh trưởng bị chết gây ra hiện tượng “tự rụng ngọn”, nghĩa là cành sinh trưởng một thời gian thì dừng lại và thuần thục, sau đó các mầm từ nách lá lại mọc ra và phát triển thành đợt lộc mới xuân, hạ, thu, đông.

Chính vì vậy cành cam quýt không có thân chính rõ rệt, cành lá sum xuê rậm rạp. Dựa theo chức năng của từng loại cành, cành của cam quýt gồm các loại cành chính là cành mẹ, cành dinh dưỡng, cành quả [48]. Mối liên hệ giữa các loại cành và các đợt lộc khá khăng khít. Cành dinh dưỡng có thể trở thành cành mẹ, hoa mọc ở mầm bất định trên thân chính hoặc cành dinh dưỡng cao tuổi làm cho tuổi của cành mẹ, của cành quả có độ dao động lớn.

Những năm ít hoa, hoa mọc từ cành cao tuổi vẫn có thể cho đậu quả rất tốt. Nhìn tổng quan một năm ra lộc của cam quýt cho thấy lộc xuân thường được mọc từ cành năm trước hoặc mầm ngủ trên thân chính, lộc xuân có ý nghĩa (cành quả) nhất là lộc mọc từ cành hè, thu năm trước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao năng suất và chất lượng cam sành tại Thái Nguyên: Nghiên cứu nông sinh học và biện pháp kỹ thuật" tập trung vào việc cải thiện năng suất và chất lượng của cam sành thông qua các nghiên cứu nông sinh học và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp canh tác hiện đại, giúp nông dân tối ưu hóa quy trình sản xuất, từ đó nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức áp dụng khoa học vào nông nghiệp, cũng như những lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng nông dân.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về phát triển nông nghiệp bền vững, hãy tham khảo bài viết Luận văn phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về hiệu quả hoạt động cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, bạn có thể đọc Luận văn hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội cũng sẽ cung cấp thêm thông tin quý giá về các giải pháp phát triển kinh tế trang trại.