chương 1, Luật Viên chức được ban hành (Luật số 58/2010/QH12): "Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [12]. Theo giáo trình Quản lý dự án được biên tập bởi Viện Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội: “Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến. Quản lý dự án là việc áp dụng các công cụ, kiến thức và kỹ thuật nhằm định nghĩa, lập kế hoạch, tiến hành triển khai, tổ chức, kiểm soát và kết thúc dự án” [16]. Tại Khoản 20 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi 2020: “1.
Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án để trực tiếp quản lý dự án. Theo đó, Ban quản lý đường sắt đô thị cấp tỉnh là đơn vị do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập để trực tiếp quản lý dự án đầu tư, xây dựng các tuyến đường sắt đô thị tại tỉnh đó. Như vậy, có thể hiểu VC QLDA tại Ban QLĐSĐT cấp tỉnh là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, thực hiện hoạt động quản lý dự án, làm việc tại Ban QLĐSĐT cấp tỉnh theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của Ban QLĐSĐT cấp tỉnh theo quy định của pháp luật. Theo vị trí việc làm, VC QLDA tại Ban QLĐSĐT được phân loại như sau: - VC QLDA giữ chức vụ quản lý: là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công 9 việc trong đơn vị nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý.
- VC QLDA không giữ chức vụ quản lý (hay còn gọi là VC QLDA chuyên môn, nghiệp vụ): là những người được Lãnh đạo Ban giao thực hiện các nhiệm vụ cụ thể hoặc thực hiện các tác nghiệp gắn với chuyên môn, nghiệp vụ tại Ban. Theo chức danh nghề nghiệp, VC QLDA tại Ban QLĐSĐT được phân loại với các cấp độ từ cao xuống thấp: VC QLDA hạng I; VC QLDA hạng II; VC QLDA hạng III; VC QLDA hạng IV. - Có hiểu biết sâu rộng về kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực đường sắt đô thị, bao gồm cả quy trình xây dựng, vận hành và bảo dưỡng. - Có khả năng lập kế hoạch, tổ chức, điều phối và kiểm soát các hoạt động của dự án từ bước chuẩn bị dự án đến bước kết thúc dự án.
- Có khả năng giao tiếp hiệu quả với các bên liên quan như nhà thầu, tư vấn, cơ quan chức năng có liên quan, và cộng đồng dân cư để đảm bảo sự thống nhất và hỗ trợ trong quá trình thực hiện dự án. - Có khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án một cách linh hoạt và hiệu quả. VC QLDA đóng vai trò quan trọng và không thể phủ nhận trong các hoạt động của Ban QLĐSĐT cấp tỉnh, cụ thể: - Giúp đảm bảo rằng các công việc được triển khai một cách hiệu quả và đạt được mục tiêu dự án một cách có tổ chức. Việc xác định rõ lịch trình, nguồn lực, và các bước triển khai là chìa khóa để đảm bảo mọi hoạt động diễn ra suôn sẻ và đúng hạn.
- Giúp kiểm soát chi phí và ngân sách một cách chặt chẽ. Việc lập kế hoạch tài chính, theo dõi các chi phí thực tế, và thích ứng với biến động giúp đảm bảo rằng dự án không vượt quá nguồn lực được giao. - Giúp nhận diện và đối phó với rủi ro một cách chủ động. Việc xây dựng các 10 chiến lược ứng phó giúp giảm thiểu tác động tiêu cực và tận dụng cơ hội để đảm bảo cho sự thành công của dự án.
- Thúc đẩy sự đổi mới và phát triển bằng cách tạo ra một môi trường làm việc tích cực và khuyến khích sự sáng tạo. - Giúp đảm bảo rằng mọi hoạt động đều tuân thủ các quy định pháp luật và quy chuẩn liên quan. Điều này quan trọng đặc biệt khi các dự án đường sắt đô thị có quy mô rất lớn và ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. - Góp phần vào việc xây dựng uy tín cho đơn vị.
Việc đáp ứng đúng hẹn, đạt chất lượng và giữ cam kết làm tăng cường mối quan hệ với các đối tác. Năng lực viên chức quản lý dự án tại các Ban quản lý đường sắt đô thị cấp tỉnh. Theo Từ điển Giáo dục học: “Năng lực là khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ” [8].
Noe định nghĩa: “Năng lực muốn chỉ đến khả năng cá nhân giúp người nhân viên thực hiện thành công công việc của họ bằng cách đạt được kết quả công việc mong muốn. Năng lực có thể là hiểu biết, kỹ năng, thái độ hay giá trị của tính cách cá nhân” [18]. Spencer and Spencer (1993) dựa trên định nghĩa về năng lực của Boyatzis mô tả “năng lực như là đặc tính cơ bản của một cá nhân (kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ, nét tiêu biểu và ý niệm về bản thân) có liên quan đến các tiêu chí đánh giá hiệu suất công việc” [17]. Trong từng tổ chức và từng vị trí đảm nhận, năng lực luôn luôn gắn liền với thực thi những loại công việc khác nhau được giao.
Do đó, cụm từ năng lực trong Đề án này đồng nghĩa với năng lực thực thi công việc được giao. Và năng lực quản lý cũng đồng nghĩa với năng lực thực thi nhiệm vụ và quyền hạn quản lý được giao cho từng vị trí quản lý. 11 Từ những phân tích trên, có thể hiểu năng lực của VC QLDA là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép VC QLDA thực hiện các hoạt động gắn với nhiệm vụ của mình ở một cấp độ hiệu suất nhất định. a) Năng lực chuyên môn nghiệp vụ: là năng lực của VC QLDA thể hiện ở trình độ đào tạo chuyên môn (bằng cấp); năng lực thực tiễn, khả năng hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn được giao.
Đây là yếu tố rất quan trọng đối với VC QLDA, quyết định hiệu quả công việc của VC QLDA. Trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ thể hiện năng lực của VC QLDA. b) Năng lực lãnh đạo, điều hành, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ: là năng lực tổ chức lãnh đạo, điều hành dự án để phối hợp hoạt động của từng bên liên quan trong dự án của VC QLDA nhằm quản lý và thực hiện dự án. Các yếu tố cấu thành.
Theo tác giả Spencer and Spencer (1993), năng lực cá nhân được cấu thành từ ba nhóm yếu tố: kiến thức, kỹ năng và thái độ [17]. Ba yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng góp phần tạo nên năng lực của mỗi cá nhân. Kiến thức là nền tảng để hình thành kỹ năng, kỹ năng là phương tiện để vận dụng kiến thức, và thái độ là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của cả kiến thức và kỹ năng. Trong thực tế, có thể phân chia chi tiết từng nhóm yếu tố này thành các yếu tố nhỏ hơn hoặc bổ sung thêm những tiêu chí khác để đánh giá năng lực cá nhân một cách toàn diện hơn.
Khi VC QLDA được giao thực thi công việc cụ thể, đòi hỏi VC QLDA đó phải có năng lực (cả ba nhóm yếu tố kể trên) phù hợp với yêu cầu của công việc, thì mới có thể đảm bảo thực thi có hiệu quả công việc được giao. a) Kiến thức Kiến thức theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt [9] là tổng thể tri thức, hiểu biết chung hoặc chuyên ngành mà một người lĩnh hội, tích lũy qua trải nghiệm hay học hỏi. Kiến thức còn được hiểu là những tri thức mà cá nhân tập hợp được qua nhiều cấp học và thể hiện qua hệ thống bằng cấp, chứng chỉ mà họ nhận được. b) Kỹ năng 12 Kỹ năng, theo từ điển giáo dục học, là khả năng của một người (không phân biệt mức độ kiến thức, học vấn) có thể làm, thực hiện trôi chảy một công việc cụ thể được trao cho người đó, là tổng hợp các cách thức, phương thức, biện pháp tổ chức và thực hiện công việc, thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế giải quyết các công việc cụ thể [8].
Kỹ năng là yếu tố có thể quan sát, đánh giá, đo lường để phân biệt cá nhân có năng lực và cá nhân có hiệu quả lao động trung bình. Theo tác giả Lê Quân, Phùng Xuân Nhạ (2015), “Kỹ năng có được thông qua kinh nghiệm và mức độ thành thạo trong công việc” [11]. c) Thái độ Từ điển tiếng Việt định nghĩa thái độ là một tập hợp các đặc điểm tâm lý của con người ảnh hưởng đến cảm xúc, tình cảm, nhận thức và nhu cầu của họ [9]. Nó định hình cách con người tiếp nhận và phản ứng trong công việc, thể hiện giá trị sống của họ.
Thái độ là yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện công việc. Các tiêu chí đánh giá năng lực viên chức quản lý dự án tại các Ban quản lý đường sắt đô thị cấp tỉnh. Tiêu chí có thể hiểu là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để phân loại, nhận biết, đánh giá các sự vật, hiện tượng. Tùy từng đối tượng khác nhau sẽ được cụ thể hóa thành các tiêu chí khác nhau và các tiêu chí này có thể có ý nghĩa về mặt định tính hoặc có thể có ý nghĩa về mặt định lượng.
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp kết quả những nghiên cứu trước đây và trên cơ sở tham khảo những tiêu chuẩn công chức ngạch hành chính tại Thông tư số 11/2014/TT-BNV của Bộ Nội vụ, Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức và viên chức, Nghị định số 48/2023/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/7/2023 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2020, bộ tiêu chí đánh giá năng lực VC QLDA được bổ sung và cụ thể hóa nội hàm các tiêu chí như sau: 1.