phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn chia làm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực của giáo viên trong lĩnh vực đào tạo lái xe CHƢƠNG 2: Phân tích thực trạng năng lực của giáo viên tại Trung tâm Đào tạo và bồi dƣỡng nghiệp vụ công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển vận tải – Bộ Giao thông vận tải. CHƢƠNG 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực của giáo viên trung tâm đào tạo và bồi dƣỡng nghiệp vụ, công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển vận tải – Bộ Giao thông vận tải. 5 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CỦA GIÁO VIÊN TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO LÁI XE 1. Đào tạo nghề và đào tạo nghề lái xe 1.
Đào tạo nghề Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội là phƣơng tiện để sinh sống và dƣới góc độ đào tạo nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ mà ngƣời lao động cần có để thực hiện các hoạt động trong một lĩnh vực lao động nhất định. Đào tạo nghề là quá trình phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp, đào tạo nghề nhằm hƣớng vào hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hôi. Mục tiêu đào tạo là trạng thái phát triển nhân cách đƣợc dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đƣợc hiểu là chất lƣợng cần đạt tới đối với ngƣời học sau quá trình đào tạo. - Chất lƣợng: chất lƣợng đƣợc đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu; chất lƣợng là sự đáp ứng với mục tiêu đề ra.
- Chất lƣợng đào tạo nghề là để chỉ chất lƣợng ngƣời lao động đƣợc đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chƣơng trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, quan niệm về chất lƣợng đào tạo nghề không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trƣờng mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của tốt nghiệp với thị trƣờng lao động. - Tiêu chí đánh giá chất lƣợng đào tạo nghề đƣợc quy định tại Quyết định số 02/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 17 tháng 1 năm 2008 của Bộ Lao động – Thƣơng binh và Xã hội. 6 z Các yếu tố cấu thành của quá trình đào tạo là các yếu tố có quan hệ trực tiếp đến hoạt động phát triển nhân cách học sinh bao gồm: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo, phƣơng tiện đào tạo, phƣơng pháp đào tạo, giáo viên và học sinh, trong đó giáo viên là yếu tố chủ đạo và học sinh là yếu tố trung tâm của quá trình đào tạo và cuối cùng là kết quả đào tạo. Mục tiêu đào tạo là kết quả mong muốn đạt đƣợc sau khi kết thúc quá trình đào tạo, thể hiện ở những yêu cầu về cải biến nhân cách của ngƣời học mà quá trình đào tạo phải đạt đƣợc, nó phản ánh các yêu cầu của xã hội đối với nhân cách của ngƣời học sau khi đƣợc đào tạo.
Mục tiêu đào tạo quy định nội dung và phƣơng pháp đào tạo, đồng thời là căn cứ để kiểm tra, đánh giá kết quả và chất lƣợng của quá trình đào tạo. Nếu mục tiêu đào tạo phản ánh sát, hợp các yêu cầu của xã hội thì ngƣời học đƣợc đào tạo có chất lƣợng sau khi ra trƣờng sẽ có khả năng phục vụ với hiệu suất và chất lƣợng cao, tức là hiệu quả đào tạo sẽ cao. Ngƣợc lại, mặc dù ngƣời học đƣợc đào tạo có chất lƣợng cao nhƣng nếu khả năng phục vụ xã hội của họ bị hạn chế, tức là không phù hợp với nhu cầu sử dụng, nhƣ vậy thì hiệu quả đào tạo sẽ thấp. Hình thức tổ chức đào tạo là hình thức tổ chức kết hợp các hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện các nội dung đào tạo.
Có các hình thức tổ chức nhƣ lên lớp, tự học, thí nghiệm, thực hành, thực tập, thăm quan, … Giáo viên là yếu tố chủ đạo của quá trình đào tạo. Thông qua việc sử dụng các phƣơng pháp, phƣơng tiện đào tạo thích hợp và thông qua nhân cách của mình, giáo viên chỉ đạo và trực tiếp tác động lên quá trình cải biến nhân cách của học sinh. Học sinh là yếu tố trung tâm của quá trình đào tạo. Xét cho cùng mọi hoạt động của cơ sở dạy nghề đều phải tập trung vào chính sự cải biến nhân 7 z cách của học sinh, đó là đối tƣợng của quá trình đào tạo.
Do tính chất phức tạp và trừu tƣợng của sự chuyển biến nhân cách của học sinh, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố thuộc chủ thể và khách thể, làm cho việc xác định những đóng góp hay tác động đến kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh là rất khó. Vì vậy, để đánh giá chất lƣợng giảng dạy của giáo viên một cách đầy đủ, chính xác rất khó. Đào tạo nghề lái xe Khái niệm đào tạo nghề lái xe là việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề hay kiến thức liên quan đến lĩnh vực lái xe, để ngƣời học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng nghề lái xe một cách có hệ thống để chuẩn bị cho ngƣời đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận đƣợc một công việc nhất định. Đặc điểm nghề đào tạo lái xe: - Là nghề đặc thù đƣợc cả hệ thống chính trị, các cấp và các ngành, ngƣời dân quan tâm.
Tuy là nghề sơ cấp, thời gian đào tạo ngắn hạn (từ 3 – 6 tháng) nhƣng yêu cầu chất lƣợng đối với ngƣời học sau khi ra trƣờng rất cao. Giáo viên và học viên luôn làm việc trong trạng thái tâm lý căng thẳng, nguy cơ rủi ro mất an toàn cao. Mục tiêu: đào tạo ngƣời lái xe nắm đƣợc các quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, có đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thong an toàn. Yêu cầu: - Nắm vững các quy định của Luật Giao thông đƣờng bộ và hệ thống biển báo hiệu đƣờng bộ Việt Nam; trách nhiệm của ngƣời lái xe trong việc tự giác chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ.
8 z - Nắm đƣợc tác dụng, cấu tạo và nguyên lý làm việc của các cụm, hệ thống chính trên xe ô tô thông dụng và một số phƣơng tiện khác. - Nắm đƣợc trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của ngƣời lái xe, các thủ tục phƣơng pháp giao nhận, chuyên chở hàng hóa, hành khách trong quá trình vận tải. - Điều khiển đƣợc phƣơng tiện cơ giới đƣờng bộ tham gia giao thông an toàn trên các loại địa hình, trong các điều kiện thời tiết khác nhau, xử lý các tình huống để phòng tránh tai nạn giao thông. Giáo viên dạy nghề và năng lực giáo viên dạy nghề lái xe 1.
Giáo viên dạy nghề lái xe Giáo viên dạy nghề là ngƣời dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề. Giáo viên dạy nghề lái xe là ngƣời dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết và dạy thực hành kỹ năng lái xe cơ giới đƣờng bộ tại các cơ sở đào taọ lái xe. Giáo viên dạy nghề lái xe có đặc điểm: - Giảng dạy theo đúng nội dung, chƣơng trình đã đƣợc Bộ Giao thông vận tải quy định, viết giáo án, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của cơ sở đào tạo. - Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lƣợng, nội dung, phƣơng pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
- Không ngừng tự bồi dƣỡng nghiệp vụ, cải tiến phƣơng pháp giảng dạy, để nâng cao chất lƣợng đào tạo… - Trong các nhiệm vụ trên, giảng dạy là nhiệm vụ quan trọng nhất của ngƣời giáo viên. Để quá trình truyền đạt kiến thức, kỹ năng có hiệu quả, ngƣời giáo viên cần phải là ngƣời giỏi về chuyên môn, đồng thời cũng phải có năng lực sƣ phạm tốt. 9 z Kiến thức chuyên môn có thể hiểu đó là hệ thống lí luận khoa học hoặc thực tiễn về một vấn đề nào đó. Còn năng lực sƣ phạm chính là hệ thống các phƣơng pháp, phƣơng tiện… mà ngƣời giáo viên sử dụng để truyền đạt kiến thức chuyên môn tới ngƣời học và giúp ngƣời học nắm chắc các nguyên lý, các quy luật, các khái niệm và mối liên hệ giữa chúng.
Trên cơ sở đó giúp ngƣời học có phƣơng pháp tự tìm hiểu, tự giải quyết các vấn đề liên quan mà thực tiễn đặt ra. Năng lực của giáo viên dạy nghề lái xe * Năng lực Trong bất cứ hoạt động nào của con ngƣời, để thực hiện có hiệu quả, con ngƣời cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này đƣợc gọi là năng lực. Định nghĩa năng lực nhƣ sau: Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con ngƣời, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt đƣợc những kết quả cao. Theo từ điển trên mạng định nghĩa: Năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn.
Năng lực theo Từ điển Tiếng Việt là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay năng lực là những điều kiện đƣợc tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Từ trƣớc đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về năng lực, nhƣng dù đƣợc định nghĩa dƣới khía cạnh nào thì năng lực là khả năng thực hiện đƣợc một công việc với một kết quả nhất định. Năng lực đƣợc tạo thành bởi các thành tố: kiến thức, kỹ năng và thái độ - Kiến thức: Hiểu một cách đơn giản, kiến thức là những hiểu biết về một sự vật, một hiện tƣợng mà con ngƣời có đƣợc thông qua trải nghiệm thực tế hoặc giáo dục. 10 z - Kỹ năng: Theo nghĩa thông thƣờng, kỹ năng là khả năng áp dụng tri thức khoa học và thực tiễn để giải quyết một công việc cụ thể nào đó.
- Hành vi, thái độ: Hành vi, thái độ đối với một công việc đƣợc hiểu là quan điểm, quan niệm về giá trị, thế giới quan, suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của cá nhân ấy với công việc đang đảm nhận. “Năng lực” gắn liền với việc thực hiện công việc, đƣợc thể hiện bằng kết quả công việc, “năng lực” mang đặc thù công việc và đặc trƣng cá nhân.