Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Hiệu trưởng và các khái niệm liên quan: 1. Hiệu trưởng và nhiệm vụ quyền hạn của hiệu trưởng 1. Khái niệm “Hiệu trưởng” Điều 54, Luật Giáo dục 2005 ( Sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về Hiệu trưởng như sau: - Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.
- Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học. - Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng; thủ tục bổ LV thạc sĩ Quản lý công nhiệm, công nhận hiệu trưởng trường đại học do Thủ tướng Chính phủ quy định; đối với các cấp học khác do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; đối với cơ sở dạy nghề do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quy định. Theo Thông tư số 41/2010/TT-BGD ĐT, ngày 30 tháng 12 năm 2010 về ban hành Điều lệ trường Tiểu học, thì hiệu trưởng trường tiểu học được qui định như sau: Hiệu trưởng trường tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường. Hiệu trưởng do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với trường tiểu học tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền.
Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm hiệu trưởng trường tiểu học phải đạt chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học. 9 Nhiệm kì của Hiệu trưởng trường tiểu học là 5 năm. Sau 5 năm, Hiệu trưởng được đánh giá và có thể được bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại. Đối với trường tiểu học công lập, Hiệu trưởng được quản lí một trường tiểu học không quá hai nhiệm kì.
Mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một trường tiểu học. Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, Hiệu trưởng trường tiểu học được cán bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo quy định. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng: Một là, Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền; Hai là, lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn LV thạc sĩ Quản lý công trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; Ba là, Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định; Bốn là, Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường; Năm là, Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà tr- ường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách; Sáu là, Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định; 10 Bảy là, Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; Tám là, Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng. Theo tác giả Thái Văn Thành, trong trường phổ thông, Hiệu trưởng là thủ trưởng đơn vị do Nhà nước bổ nhiệm bằng văn bản quy phạm pháp luật theo chế độ phân cấp hiện hành, Hiệu trưởng là người: - Đại diện cho nhà trường về mặt pháp lý; Hiệu trưởng là người thay mặt nhà trường chịu trách nhiệm pháp nhân trước luật pháp nhà nước.
- Có trách nhiệm và có thẩm quyền cao nhất về hành chính, chuyên môn trong nhà trường; chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước nhân dân tổ LV thạc sĩ Quản lý công chức, quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng. - Có đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn được quy định trong Điều lệ trường mầm non, Điều lệ trường tiểu học, trường trung học. [34, 61- 62] Tóm lại, hiệu trưởng là người đứng đầu một cơ sở đào tạo được nhà nước công nhận về mặt pháp lý, đại diện cho pháp luật quản lý, điều hành cơ sở giáo dục và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân về việc làm của mình. Các khái niệm liên quan: 1.
Năng lực là gì? Năng lực là nghiên cứu khả năng làm việc của họ gắn với những nhiệm vụ mà tổ chức đảm nhận. Thiếu năng lực hay không có năng lực là nói đến sự yếu kém, hạn chế trong việc thực thi công việc trong một tổ chức, trong những điều kiện cụ thể. Đồng thời cũng cần xem xét khía cạnh năng lực theo 11 mức độ hoàn thiện của công việc mà con người đảm nhiệm. Nếu ở mức tối thiểu, con người có thể làm được nhiệm vụ giao cho theo những tiêu chuẩn tối thiểu và khi năng lực của họ được nâng cao, họ có thể làm được những công việc đó tốt hơn, hiệu quả hơn (chất lượng hơn, tiết kiêm, được chi phí hơn).
Do đó, quy định năng lực đảm nhận công việc cũng phải qui định ở mức tối thiểu để làm được công việc mà cá nhân được phân công. Dù theo cách tiếp cận nào, năng lực luôn gắn với cách thức nhìn nhận khả năng thực thi công việc được giao. Tóm lại, năng lực là tổng hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ cảu cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả. Năng lực cá nhân: Năng lực cá nhân được hiểu là kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi LV thạc sĩ Quản lý công mà người hiệu trưởng cần phải có, thể hiện ổn định, đáp ứng yêu cầu công việc và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác.
Kiến thức: Những kiến thức mà cá nhân học được trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp học. Đó có thể được thể hiện thông qua hệ thống bằng cấp cá loại mà cá nhân đó có được. Tuy nhiên, các loại bằng cấp này mới chỉ thể hiện mức độ kiến thức con người có được trong trường học, những kiến thức này có thể bị lãng quên nếu con người không có điều kiện sử dụng. Kỹ năng: Đó chính là khả năng của một người ( không phân biệt mức độ kiến thức, học vấn) có thể làm, thực hiện có hiệu quả một công việc cụ thể được trao cho họ.
Con người có thể làm được nhiều việc trên nhiều lĩnh vực. Kỹ năng của con người có được phải thông qua thực thi các công việc. Nếu như kiến thức có thể có được thông qua học tập, đào tạo và bồi dưỡng thì khả năng đó phải thông qua thực hành. Một người có kiến thức đã học về một 12 lĩnh vực nào đó nhưng họ phải thông qua thực hành kỹ năng mới hình thành từng bước và cấp độ kỹ năng ngày càng tăng khi họ đã thành thạo công việc.
Hành vi, ứng xử và các mối quan hệ: Đây là yếu tố thứ ba xác định được năng lực của một con người. Những biểu hiện về quan hệ, ứng xử, giao tiếp, nghe, nói là những biểu hiện của hành vi và hành vi của một người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và được thực hiện thông qua những hoạt động cụ thể. Hành vi ứng xử, giao tiếp, quan hệ mang tính cách của cá nhân con người. Do vậy, thành công hay thất bại của con người sẽ phụ thuộc vào hành vi mà chính họ có trong mối quan hệ với cá nhân khác.
Ba yếu tố trên được kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên một chính thể, đó là năng lực của cá nhân con người. Năng lực hiệu trưởng: Năng lực của Hiệu trưởng là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, hành LV thạc sĩ Quản lý công vi ứng xử và các mối quan hệ của Hiệu trưởng được sử dụng trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo qui định của pháp luật, đảm bảocho hoạt động công vụ được thực thi liên tục, thông suốt và hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ mà nhà trường đã đề ra. Khái niệm “Đội ngũ”: Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Ngày nay khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: "Đội ngũ cán bộ, công chức; đội ngũ trí thức; đội ngũ y, bác sỹ."đều xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ đó là: "Khối đông người được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức thành lực lượng chiến đấu".
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau nhưng đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực 13 lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định. Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: Đội ngũ là một tập thể gồm số đông người, có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần. Trường tiểu học và vị trí, vai trò của trường tiểu học 1. Vị trí của trường Tiểu học Điều 2 - Điều lệ trường Tiểu học xác định: " Trường Tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng".
Mục tiêu giáo dục tiểu học: Mục tiêu giáo dục tiểu học theo điều 27 - Luật giáo dục: "Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển LV thạc sĩ Quản lý công đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở".