Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở khoa học về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành nước mắm Phú Quốc Chương 4: Giải pháp chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh ngành nước mắm Phú Quốc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH HÀNG 2. Cơ sở lý thuyết Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình kim cương của Michael E. Porter để phân tích năng lực cạnh tranh của ngành nước mắm Phú Quốc. Sức cạnh tranh của một ngành xuất phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ, sản phẩm, cung cách quản lý của ngành và môi trường kinh doanh.
Các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không phải chỉ thuần là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc Chính phủ tạo ra. Các yếu tố tác động đó được thể hiện tại bốn đỉnh của mô hình kim cương 2. Các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng một số cụm từ, thuật ngữ, có thể những cụm từ, thuật ngữ này có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng trong nội dung bài nghiên cứu, các cụm từ thuật ngữ đó được hiểu như cách giải thích, định nghĩa được nêu bên dưới. Năng lực cạnh tranh: bài nghiên cứu này tiếp cận khái niệm năng lực cạnh tranh của Michael E.
Porter, theo đó, khái niệm năng lực cạnh tranh có nghĩa là năng suất, trong đó năng suất được đo lường bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động hay một đơn vị vốn tạo ra trong một đơn vị thời gian. Cụm ngành:từ “cụm ngành” được tác giả dịch từ thuật ngữ “industrial cluster” trong các tác phẩm của Michael Porter, theo đó cụm ngành được hiểu là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại…) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau. Phạm vi địa lý của một cụm ngành có thể là một thành phố,một khu vực hành chính hoặc là cả một quốc gia hay mạng lưới các nước láng giềng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Cụm ngành có nhiều hình thức tùy thuộc vào độ sâu và tính phức tạp của nó nhưng đa số bao gồm các công ty tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cuối, các nhà cung ứng những đầu vào chuyên biệt, linh kiện, máy móc, dịch vụ; các tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong các ngành liên quan.
Cụm ngành cũng bao gồm các doanh nghiệp thuộc ngành hạ nguồn; nhà sản xuất sản phẩm bổ trợ, nhà cung cấp hạ tầng chuyên dụng, chính quyền và các tổ chức cung cấp hoạt động đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật; những cơ quan thiết lập tiêu chuẩn. Ngoài ra, có thể xem một phần của cụm ngành là những cơ quan nhà nước có ảnh hưởng lớn. Cuối cùng nhiều cụm ngành còn bao gồm các hiệp hội thương mại và những tổ chức tập thể khác của khu vực tư nhân để hỗ trợ cho các thành viên trong cụm ngành. Ở Việt Nam, thương hội và các làng nghề truyền thống tồn tại hàng trăm năm trước là những biểu hiện lịch sử cho sự tồn tại của cụm ngành.
Hoạt động theo hình thức cụm ngành tạo ra ngoại tác tích cực và lợi thế kinh tế nhờ quy mô cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực đó. Lợi thế kinh tế xuất hiện khi sự tập trung tạo ra thị trường lao động linh hoạt cho những công nhân có tay nghề và kỹ năng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các nhân tố đầu vào và dịch vụ chuyên biệt và tạo được tác động lan tỏa từ việc phát triển công nghệ và bí quyết. Cụm ngành ngày càng được coi như một nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh. Mô hình kim cương: theo M.
Porter (2008) chất lượng môi trường kinh doanh thường được đánh giá qua bốn đặc tính tổng quát bao gồm: các điều kiện nhân tố đầu vào; các điều kiện cầu; các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan; chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa. Ông mô tả bốn đặc tính này thông qua bốn gốc của một hình thoi và được nhiều nhà nghiên cứu gọi một cách hoa mỹ là “mô hình kim cương” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh Nguồn: Porter, Michael E. và Ketels, Christian H.
(2010), Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 Hình 2.1: Các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh Michael E. Porter định nghĩa rằng yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh là năng suất, là khả năng tạo ra các hàng hóa và dịch vụ có giá trị thông qua việc sử dụng các nguồn lực con người, vốn và nguồn lực tự nhiên của một quốc gia – và năng suất là động lực cốt lõi dẫn dắt sự thịnh vượng bền vững. Porter nói rằng năng suất là tập hợp các nhân tố được hình thành dưới tác động của những thành viên tham gia trong nền kinh tế. Một số nhân tố được nhóm vào năng lực cạnh tranh vĩ mô, xác định môi trường hay bối cảnh chung, bao gồm các chính sách kinh tế vĩ mô, hạ tầng xã hội và các thể chế chính trị không tác động trực tiếp lên năng suất nhưng tạo điều kiện thúc đẩy tăng năng suất.
Ngoài ra theo Tiến sỹ Vũ Thành Tự Anh (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright), nhân tố hạ tầng kỹ thuật là rất quan trọng của năng lực cạnh tranh vĩ mô. Một nhóm nhân tố khác được gọi là năng lực cạnh tranh vi mô, mô tả các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của các công ty và cách thức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 các công ty hoạt động, bao gồm chất lượng môi trường kinh doanh, trình độ phát triển cụm ngành và độ tinh thông của doanh nghiệp tác động trực tiếp lên năng suất. Một nhóm nhân tố khác là các lợi thế tự nhiên không tác động lên năng suất nhưng có thể hỗ trợ tạo nên sự thịnh vượng. Các nhân tố này tạo ra một môi trường tổng thể, trong đó vị thế tương đối của nền kinh tế được xác định so với các nền kinh tế khác.
Mô hình Kim cương Tại sao có những quốc gia có khả năng thúc đẩy năng lực cạnh tranh cao hơn và thành công trong những ngành công nghiệp nhất định? Michael E. Porter nói rằng có bốn thuộc tính mà quốc gia định hình môi trường cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh, bốn thuộc tính đó được mô tả thông qua mô hình kim cương. Mô hình kim cương sử dụng phạm vi nghiên cứu là cụm ngành, điều đó có nghĩa là phân tích năng lực cạnh tranh của một ngành đặt trong mối quan hệ với các ngành, các chủ thể khác có sự tập trung về mặt địa lý và có tác động hoặc có liên quan đến ngành cần phân tích. Mô hình kim cương thể hiện 4 nhóm nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của một ngành được thể hiện qua 4 đỉnh chính đó là: điều kiện các nhân tố đầu vào; bối cảnh chiến lược và cạnh tranh; điều kiện cầu; các ngành hỗ trợ và có liên quan.
Tuy nhiên, bốn đỉnh chính này đều chịu sự chi phối bởi các chính sách quy định của nhà nước và chính quyền địa phương, mô hình kim cương được thể hiện thông qua hình 2. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Nguồn: Michael Porter (2008, trang 227) Hình 2.2: Mô hình kim cƣơng phân tích lợi thế cạnh tranh của cụm ngành a. Điều kiện các nhân tố sản xuất (đầu vào): bao hàm cả những tài sản hữu hình, thông tin, hệ thống pháp lý, các viện nghiên cứu của trường đại học mà các doanh nghiệp dựa vào cạnh tranh. Cụ thể các nhân tố có thể kể đến như lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở hạ tầng vật chất, cơ sở hạ tầng hành chính, cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ.
Để tăng năng suất, các yếu tố sản xuất đầu vào phải cải thiện được hiệu quả, chất lượng và trên hết là chuyên môn hóa vào một số lĩnh vực, cụm ngành cụ thể. Yếu tố sản xuất được chuyên môn hóa, đặc biệt là những yếu tố thiết yếu cho việc đổi mới và nâng cấp (ví dụ: viện nghiên cứu đại học chuyên biệt) không chỉ tạo ra các cấp độ năng suất cao mà còn có khuynh hướng ít được mua bán hoặc hiện hữu ở nơi khác. Bối cảnh chiến lược và sự cạnh tranh của doanh nghiệp: Những ngành có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách của quốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ có tính cạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 tranh quốc tế mạnh hơn. Chẳng hạn như ngành sản xuất xe hơi của Nhật có một số công ty cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới, một phần là do các công ty này đã cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước.
Bối cảnh chiến lược và sự cạnh tranh liên quan đến luật định, biện pháp khuyến khích và những chuẩn mực điều chỉnh loại hình và cường độ tranh đua ở địa phương. Các nền kinh tế có năng suất thấp cho thấy ít có sự cạnh tranh địa phương, cạnh tranh nếu có cũng chỉ là hàng nhập khẩu, sự tranh đua địa phương nếu xảy ra thì chỉ xoay quanh việc bắt chước. Giá là biến số cạnh tranh duy nhất và các doanh nghiệp chèn ép tiền lương để hạ chi phí, kiểu cạnh tranh này chỉ có mức đầu tư tối thiểu. Để phát triển, cạnh tranh phải chuyển từ bắt chước sang đổi mới, từ đầu tư thấp sang đầu tư cao không chỉ vào tài sản vật chất mà cả trong tài sản vô hình như kỹ năng, công nghệ.
Cụm ngành đóng vai trò thiết yếu trong những xu hướng chuyển tiếp này. Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh chia làm hai khía cạnh sơ bộ đó là môi trường đầu tư và các chính sách địa phương. Mức độ cạnh tranh đầu tư gia tăng là cần thiết để hỗ trợ cho những hình thức cạnh tranh tinh tế hơn và mức năng suất cao hơn.