Đặt vấn đề Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và thực nghiệm Chương 3: Phân tích năng lực cạnh tranh và kết quả nghiên cứu cụm ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Chương 4: Kết luận và phương hướng giải quyết chính sách 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM 2. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về du lịch + Theo WTO: Du lịch là tất cả những hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ không quá 12 tháng với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, công vụ và nhiều mục đích khác. + Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ. Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. + Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh: Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch.
Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế. + Theo Luật Du lịch 2017 (được Quốc hội ban hành ngày 19/6/2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) đã nêu khái niệm về du lịch như sau: 6 Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Bản chất của du lịch: Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách: Bản chất của du lịch là tham quan, du ngoạn, tận hưởng một tinh thần thoải mái, thụ hưởng những tinh hoa mang giá trị tinh thần, vật chất và mang đậm nét văn hóa, bản sắc dân tộc mỗi vùng miền.
Nhìn từ góc độ quốc sách phát triển du lịch: Dựa trên nền tảng thiên nhiên ban tặng, các tài nguyên du lịch, để đưa ra lộ trình, hoạch định chiến lược phát triển du lịch, hướng đến du lịch là mũi nhọn để phát triển kinh tế của địa phương, chọn lọc những tinh hoa, các vẻ đẹp sản phẩm độc đáo, đặc trưng và lạ mắt, hoạch định phương hướng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng giao thông và hơn hết là nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Nhìn từ góc độ sản phẩm du lịch: Sản phẩm của du lịch nó bao gồm: các chương trình du lịch; các di tích lịch sử; văn hóa; cảnh quan thiên nhiên có nội dung chủ yếu là sự liên kết những di tích lịch sử, văn hóa và cảnh quan, các sản phẩm lưu niệm kết hợp hài hòa với cơ sở vật chất kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển. Nhìn từ góc độ thị trường du lịch: Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị du lịch là tìm kiếm thị trường du lịch, tìm kiếm nhu cầu của du khách để “mua chương trình du lịch” và tạo doanh thu phát triển kinh tế- xã hội. Môi trường du lịch: “Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch”.
Trong đó, môi trường tự nhiên gồm: các yếu tố địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên. Môi trường xã hội nhân văn gồm: các thể chế chính sách; tình trạng, mức độ bảo tồn phát triển các giá trị truyền thống; mức độ thân thiện và chất lượng cuộc sống của cộng đồng; cuối cùng là môi trường kinh doanh và tình trạng của đội ngũ nhân lực du lịch. Khái niệm về năng lực cạnh tranh. - Theo Porter (2008), năng lực cạnh tranh là khái niệm có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh đó chính là năng suất – nhân tố quyết định quan trọng nhất của mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người.
Và để tăng trưởng năng suất bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải liên tục tự nâng cấp mình. - Cũng theo Porter (2008) có 3 yếu tố quan trọng tác động đến năng suất và khả năng cạnh tranh của một quốc gia, bao gồm các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc gia, NLCT vĩ mô, NLCT vi mô. - NLCT địa phương, theo Porter và Ketels (2010) đã được điều chỉnh bởi TS. Vũ Thành Tự Anh (2011) được xác định bởi các yếu tố cơ bản như năng suất.
Năng suất là tập hợp yếu tố được tạo thành bởi sự tác động của các tác nhân tham gia trong nền kinh tế. Các nhân tố này tạo ra một môi trường tổng thể, và vị thế tương đối của một nền kinh tế được xác định so với các nền kinh tế khác: - Các lợi thế tự nhiên là nhân tố tạo nên sự khác biệt thịnh vượng của địa phương - NLCT cấp độ địa phương gồm các yếu tố được xác định của môi trường hay bối cảnh chung, chính sách kinh tế địa phương, hạ tầng xã hội và thể chế chính trị tạo điều kiện thúc đẩy với mục đích tăng năng suất. - Nhóm nhân tố khác được nhóm vào NLCT cấp độ DN, bao gồm những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp và làm thay đổi cách thức hoạt động của DN cũng như tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của DN. Tuy vậy NLCT ở cấp độ địa phương mà năng suất cuối cùng sẽ phụ thuộc vào độ nhạy bén trong cạnh tranh trong nước cũng như năng lực vi mô của nền kinh tế, còn năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương sẽ góp phần tạo ra tiềm năng để đạt được mức năng suất cao.
Dưới đây là mô hình về Năng lực cạnh tranh địa phương theo Porter và Ketels (2010), đã được điều chỉnh bởi TS. Vũ Thành Tự Anh (2011). 8 Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp Môi trường kinh Trình độ Hoạt động và doanh phát triển chiến lược của cụm ngành doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phƣơng Hạ tầng Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Chính sách tài văn hóa, xã khóa, tín dụng, hội y tế, và cơ cấu giáo dục kinh tế Các yếu tố lợi thế có sẵn của địa phƣơng Tài nguyên Vị trí địa lý Quy mô địa thiên nhiên phương Hình 2.1 Các nhân tố nền tảng quyết định NLCT địa phương Nguồn: Porter và Ketels (2010), đã được điều chỉnh bởi TS. Vũ Thành Tự Anh (2011) 2.
Khái niệm về cụm ngành: Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm cụm ngành, tuy nhiên Michael Porter là học giả đã phát triển và đưa ra khung phân tích phù hợp liên quan đến năng lực cạnh tranh bao gồm các góc độ phân tích: công ty, ngành công nghiệp, địa phương, vùng và quốc gia. Theo Porter (1990, 1998, 2008) thì khái niệm cụm ngành được hiểu là “sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại.) trong một số lĩnh vực đặc thù vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”. Khái niệm này được xây dựng dựa vào hai trụ cột. Một là vai trò của sự tập trung về mặt địa lý của hoạt động kinh tế, việc nhấn mạnh về vai trò của sự tập trung này trong lý thuyết cụm ngành đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc mới về vai trò của vị trí đối với lợi thế so sánh.
9 Hai là tính liên kết và liên quan, cụm ngành không phải một tập hợp rời rạc của một nhóm công ty bất kỳ mà nó được gắn kết bởi sự tương hỗ và được cộng hưởng bởi tác động lan tỏa tích cực. Porter đưa ra mô hình kim cương về cụm ngành như sau: Môi trường chính sách giúp phát huy chiến lược kinh doanh và cạnh tranh Các chủ trương của tỉnh Môi trường nội địa khuyến Những điều kiện Những điều kiện khích các dạng đầu tư và nâng nhân tố cấp bền vững cầu (Đầu vào) Cạnh tranh quyết liệt giữa các đối thủ tại địa phương Số lượng và chi phí của nhân Các ngành công Những khách hàng nội địa tố (đầu vào) nghiệp hỗ trợ sành sỏi và đòi hỏi khắt Tài nguyên thiên nhiên khe và có liên quan Tài nguyên con người Nhu cầu của khách hàng (nội địa) dự báo nhu cầu ở những Tài nguyên vốn - Sự hiện hữu của các nhà cung cấp nội địa có năng lực nơi khác Cơ sở hạ tầng vật chất - Sự hiện hữu của ngành công Nhu cầu nội địa bất thường ở Cơ sở hạ tầng quản lý nghiệp cạnh tranh có liên những phân khúc chuyên Cơ sở hạ tầng thông tin biệt hóa có thể được đáp Cơ sở hạ tầng khoa học quan ứng trên toàn cầu. Nhân tố số lượng Nhân tố chuyên môn hóa Hình 2.2 Mô hình kim cương của Porter 2. Tổng quan các nghiên cứu trước Năm 2012, tác giả Nguyễn Vũ Hà Giang đã thực hiện đề tài nghiên cứu về “Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Bình Thuận” – một trong các tỉnh lân cận và có nhiều điểm tương đồng với BR-VT về đặc thù du lịch.
Đề tài đã chỉ ra bên cạnh những lợi thế và đóng góp tích cực của ngành du lịch đối với nền kinh tế tỉnh Bình Thuận, vẫn còn nhiều hạn chế mà ngành du lịch tỉnh này cần khắc phục, 10 như: chưa tương xứng với tiềm năng, phát triển dựa trên lợi thế so sánh một cách thiếu bền vững, sức cạnh tranh trong nước kém.