Chương 1 giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn. Chương 2 bao gồm lý thuyết về năng lực cạnh tranh của cụm ngành, các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành, tính “footloose” của ngành dệt may và kinh nghiệm phát triển ngành dệt may ở các nước. Chương 3 sẽ tập trung vào phân tích thực trạng phát triển của ngành dệt may Thừa Thiên Huế, đánh giá khả năng phát triển cụm ngành dựa vào sự qui tụ sản xuất bằng chỉ số LQ và mô hình kim cương. Cuối cùng, kết luận, kiến nghị chính sách và hạn chế của đề tài sẽ được trình bày ở chương 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của cụm ngành Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại…) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau ( Porter,1990, 1998, 2008, trích Vũ Thành Tự Anh, 2012).
Vũ Thành Tự Anh (2012) cho rằng, khái niệm cụm ngành được xây dựng dựa vào hai trụ cột quan trọng. Thứ nhất đó là của sự tập trung về mặt địa lý của hoạt động kinh tế. Thứ hai là tính “liên kết” và “liên quan”, nghĩa là cụm ngành không phải là một tập hợp rời rạc, mà ngược lại đó là sự gắn kết của một nhóm các công ty để tạo ra sự tương hỗ và những tác động tích cực lan tỏa cho nhau. Sức mạnh của một cụm ngành lớn hơn tổng sức mạnh của các thành viên riêng lẻ gộp lại.
Sự phát triển của cụm ngành đóng một vai trò rất lớn đối với việc tăng ưu thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp hoặc một nền kinh tế (Vũ Thành Tự Anh, 2012). Đầu tiên, cụm ngành thúc đẩy năng suất thông qua việc giúp các doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận với các nhân tố đầu vào, giảm chi phí và thời gian giao dịch, tăng động cơ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Thứ hai, cụm ngành thúc đẩy đổi mới, do thông tin về nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, các nhà cung ứng được phổ biến rộng rãi hơn, đồng thời sự sẵn có của các nguồn lực tài chính, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp giúp giảm các chi phí và rủi ro về thử nghiệm công nghệ mới. Thứ ba, cụm ngành giúp thúc đẩy thương mại hóa và ra đời các doanh nghiệp mới.
Việc thành lập các doanh nghiệp mới trở nên dễ dàng hơn do thể chế hỗ trợ tài chính và kỹ năng, các mối quan hệ thương mại và nhu cầu có tính tập trung. Xét về cấu trúc của cụm ngành dệt may, IPP & CIEM (2013), cho rằng hoạt động cốt lõi là sản xuất dệt may, nhìn theo chiều dọc thì sẽ có các công ty thượng nguồn (thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu.) và các công ty hạ nguồn (ví dụ như hậu cần xuất khẩu, thương hiệu, bán buôn, bán lẻ). Theo chiều ngang, sẽ có các ngành liên quan như thời trang, da giày, trang trí nội thất, các cụm ngành hỗ trợ như máy móc, hóa chất. Ngoài ra, cụm ngành còn có, trường thiết kế thời trang, trường đào tạo công nhân kỹ thuật, các tổ chức cung cấp hạ tầng giao thông, xuất nhập khẩu, và thương mại.
Cuối cùng cụm ngành còn có các cơ quan thuộc chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- phủ hoặc các thể chế quản lý như bộ chuyên ngành (như Bộ Công Thương), các hiệp hội dệt may (ở cấp trung ương và địa phương) như hình 2.1 Sơ đồ cụm ngành dệt may của thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận Nguồn: IPP và CIEM (2013) 2.2 Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành Như đã phân tích ở trên, cụm ngành có hai trụ cột chính đó là sự tập trung về mặt địa lý của hoạt động kinh tế và tính “liên kết” và “liên quan” của các thành tố trong cụm ngành. Vì vậy, để đánh giá cụm ngành dệt may, tác giả kết hợp sử dụng phương pháp phân tích mức độ tương đồng khu vực LQ và mô hình kim cương của Porter.1 Phương pháp phân tích mức độ tương đồng khu vực LQ (location quotient) Đây là phương pháp phân tích dữ liệu thống kê nhằm nhận diện các cụm ngành tiềm năng trong khu vực dựa vào mức độ tập trung của một ngành công nghiệp trong một khu vực địa lý nhất định. Phương pháp này đưa ra giả thiết rằng tại một khu vực địa lý nhất định, nếu có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- sự tập trung lao động lớn vào một ngành công nghiệp nào đó thì khu vực này có tiềm năng hình thành và phát triển cụm ngành đó. Mức độ tương đồng khu vực được tính bằng công thức sau: ei/e LQLđ = 𝐸𝑖/𝐸 Trong đó: ei: số lao động trong ngành dệt may tại tỉnh TT Huế e: số lao động trong tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại tỉnh TT Huế Ei: số lao động trong ngành dệt may tại vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung E: số lao động trong tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung LQLĐ >1: tỉnh có mức độ tập trung lao động cao hơn so với bình quân trong khu vực so sánh, nghĩa là tỉnh có tiềm năng phát triển cụm ngành công nghiệp i.
LQLĐ <1: tỉnh có mức độ tập trung lao động thấp hơn so với bình quân trong khu vực so sánh, hay nói cách khác khu vực không có tiềm năng phát triển cụm ngành công nghiệp i Bên cạnh đó, để xem xét mức độ đóng góp của mỗi ngành cho toàn ngành công nghiệp của một địa phương ta có thể tính công thức LQ đối với giá trị sản xuất công nghiệp theo công thức sau: oi/o LQGTSX = 𝑂𝑖/𝑂 oi: giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may tại tỉnh TT Huế o: giá trị sản xuất công nghiệp tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại tỉnh Thừa Thiên Huế Oi: giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may tại vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung O: giá trị sản xuất công nghiệp tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung LQGTSX >1: khu vực có giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may cao hơn so với bình quân khu vực so sánh, nghĩa là công nghiệp có đóng góp tích cực cho hoạt động sản xuất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- công nghiệp của địa phương. LQGTSX < 1: công nghiệp dệt may chưa có đóng góp tích cực cho địa phương Xin nhấn mạnh rằng, việc so sánh chỉ số tương đồng theo khu vực không phải để đánh giá sự phát triển của cụm ngành mà chỉ cho thấy mức độ khả năng hình thành, phát triển thành cụm ngành của một ngành trong một khu vực nhất định.2 Mô hình kim cương của Porter Theo Vũ Thành Tự Anh (2012), mô hình kim cương của Porter được áp dụng phổ biến trong các phân tích về cụm ngành, đặc biệt là để nhận ra các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của địa phương và ngành, từ đó xây dựng chiến lược phát triển cụm ngành nói riêng và kinh tế nói chung. Mô hình kim cương đề cập đến 4 nhân tố chính là: các điều kiện nhân tố đầu vào, môi trường chính sách và cạnh tranh, các điều kiện cầu và các ngành hỗ trợ liên quan: (i) Các điều kiện nhân tố đầu vào bao gồm: lao động, cơ sở hạ tầng vật chất, đất đai, hệ thống đào tạo, tài nguyên vốn, điều kiện tự nhiên, nguyên liệu… Những nhân tố này được coi là điều kiện tiền đề cơ bản để phát triển mỗi doanh nghiệp, địa phương, vùng lãnh thổ. Do đó, đây một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp (ii) Môi trường chính sách và cạnh tranh: bao gồm những điều kiện ảnh hưởng đến việc tạo lập, tổ chức và quản lý doanh nghiệp; và đặc điểm của các đối thủ trong địa phương (iii) Các điều kiện về cầu: bao gồm nhu cầu trong và ngoài nước về sản phẩm dịch vụ (iv) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: bao gồm các nhà cung ứng và phân phối hỗ trợ ngành và cụm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Mô hình kim cương của Porter Vai trò của Nhà nước Môi trường chính sách và cạnh tranh Điều kiện Điều kiện về nhân tố đầu cầu vào Ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan quan Nguồn: Porter (1990) 2.3 Tính “footloose” của ngành dệt may Những ngành thâm dụng lao động được tạo ra bởi những công ty đa quốc gia ở những nước phát triển thường rất nhạy cảm với mức lương địa phương.
Các công ty đa quốc gia này tìm đến những nước có mức lương thấp để đầu tư sản xuất, nhưng khi lương tăng lên ở một mức nào đó, họ sẽ dịch chuyển đến một vùng mới có mức lương thấp hơn. Những ngành như vậy gọi là ngành “footloose” (Flamma 1984, Tain Jy Chen and Ying-Hua Ku, 2013 ). Tính chất này của ngành dệt may được thể hiện rất rõ thông qua dòng dịch chuyển của của ngành qua các thời kỳ (hình 2.3) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Dòng dịch chuyển của ngành dệt may trên thế giới Cuối thế kỷ 18 Nguồn gốc Sản xuất dệt may hiện đại - sử dụng máy móc điều khiển bởi động cơ nhân tạo. Bắt đầu từ cuộc cách mạng đầu tiêu ở Anh vào cuối thế kỷ 18 1950s đến đầu Dịch chuyển lần 1: Từ Bắc Mỹ và Đông Âu đến Nhật 1960s Ban đầu dựa vào bông nhập khẩu và máy kéo sợi của Anh nhưng sau chiến tranh thế giới lần 2 dựa vào phát triển của máy móc nội địa, Nhật trở thành điểm đến được ưa thích nhất 1970s đến đầu Dịch chuyển lần 2: Nhật Bản đến Hong Kong, Đài Loan và Hàn Quốc 1980s Những đất nước này chiếm thị phần xuất khẩu dệt may lớn ở 1970s và đầu 1980s 1980s đến đầu Dịch chuyển lần 3: Hong Kong, Đài Loan, Hàn Quốc đến những nước Nam Á khác 1990s Việc sản xuất vào 1980s dịch chuyển chủ yếu đến Trung Hoa Đại Lục, nhưng đồng thời cũng đến Indonesia, Malaysia, Philippines, Sri Lanka và Thái Lan 2012 Dịch chuyển lần 4 ??? – Trung Quốc đến Việt Nam hay Capuchia???