Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9310105) của tác giả Đào Duy Hà, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Đức Tuân tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2024), tập trung giải quyết bài toán năng lực cạnh tranh (NLCT) của ngành công nghiệp chế biến (CNCB) sữa Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa thương mại.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự tương phản giữa tốc độ phát triển thị trường và năng lực nội tại của ngành:

  • Doanh thu thị trường sữa Việt Nam năm 2020 đạt 135.000 tỷ đồng, tăng hơn 8% so với năm 2019 (theo Euromonitor). Tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân các năm gần đây duy trì quanh mức 10%. Cơ cấu tăng trưởng năm 2020 ghi nhận ngành hàng sữa chua tăng 12%, sữa nước tăng 10%, pho mát tăng 11%, bơ tăng 10%, các sản phẩm từ sữa khác tăng 8%, và sữa bột tăng chậm nhất ở mức 4%.
  • Ngành sữa nội địa bộc lộ sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng khi nguồn cung sữa nguyên liệu trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu sản xuất, 60% còn lại phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
  • Ngành CNCB sữa Việt Nam đứng trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu sữa lớn trên thế giới như New Zealand, Australia và Mỹ (ba quốc gia này chiếm khoảng 50% tổng giá trị nhập khẩu sữa của Việt Nam). Đặc biệt, khi thực hiện cam kết mở cửa thị trường theo Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Úc – New Zealand (AANZFTA), thuế suất đối với sữa nguyên liệu từ khu vực này đã về mức 0% từ năm 2018.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Khái niệm, nội hàm và phương pháp đo lường NLCT cấp ngành còn nhiều điểm chưa thống nhất, thường bị nhầm lẫn giữa NLCT với lợi thế so sánh (LTSS), lợi thế cạnh tranh (LTCT) hoặc năng suất. Đồng thời, chưa có công trình nào đo lường một cách định lượng và tích hợp NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam dựa trên việc kết hợp cả khía cạnh kinh tế và thương mại, cũng như chưa kiểm định mô hình định lượng xác định các yếu tố ảnh hưởng (YTAH) đến NLCT của ngành này theo chuỗi thời gian dài hạn.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là đánh giá thực trạng và phân tích các YTAH đến NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao NLCT của ngành. Bốn mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Làm rõ khái niệm và nội hàm về NLCT ngành áp dụng cho ngành CNCB sữa.
  2. Phân tích và đánh giá NLCT ngành CNCB sữa Việt Nam.
  3. Xác định và phân tích các YTAH đến NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam.
  4. Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao NLCT ngành CNCB sữa Việt Nam trong thời gian tới.

Luận án đặt ra năm câu hỏi nghiên cứu:

  1. NLCT ngành CNCB sữa của một quốc gia được hiểu như thế nào?
  2. Làm thế nào để đánh giá được NLCT ngành CNCB sữa của một quốc gia?
  3. Có những yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến NLCT của ngành CNCB sữa của một quốc gia?
  4. Thực trạng NLCT ngành CNCB sữa Việt Nam và các YTAH đến NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam hiện nay ra sao?
  5. Những giải pháp nào có thể giúp nâng cao NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: NLCT và các YTAH đến NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam (bao gồm các doanh nghiệp chế biến sản phẩm từ sữa có nguồn gốc từ động vật hoạt động tại Việt Nam, gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI).
  • Phạm vi nội dung: NLCT cấp ngành tiếp cận theo các khía cạnh khái niệm, bộ chỉ số đo lường tổng hợp và các yếu tố ảnh hưởng dựa trên mô hình Kim cương của Michael Porter (1990).
  • Phạm vi không gian: So sánh NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam với 86 quốc gia có hoạt động xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa trên thế giới; phân tích thực trạng các YTAH giới hạn trong bối cảnh ngành CNCB sữa Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đo lường và so sánh NLCT quốc tế trong giai đoạn 2000 – 2020; ước lượng mô hình các YTAH đến NLCT thực hiện trên chuỗi số liệu từ năm 1990 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa tiến trình phát triển của các lý thuyết thương mại và cạnh tranh làm nền tảng cho nghiên cứu NLCT:

  • Lý thuyết thương mại cổ điển và tân cổ điển: Chủ nghĩa trọng thương (thế kỷ 16–18) coi thương mại là trò chơi có tổng bằng không (Sihlobo, 2016; Smit, 2010); Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1776) nhấn mạnh phân công lao động và chuyên môn hóa; Lý thuyết Lợi thế so sánh (LTSS) của David Ricardo (1817) giải thích thương mại dựa trên chi phí cơ hội và năng suất lao động; Lý thuyết tỷ lệ nhân tố của Heckscher (1919) và Ohlin (1933) giải thích thương mại bằng sự dồi dào về các yếu tố sản xuất (đất đai, lao động, vốn).
  • Các lý thuyết giải thích hiện tượng thương mại hiện đại: Nghịch lý Leontief (1953) chỉ ra sự không phù hợp của lý thuyết H-O đối với cơ cấu thương mại Hoa Kỳ; Lý thuyết nhu cầu tương đồng của Linder (1961); Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm của Raymond Vernon (1966); Lý thuyết thương mại mới với mô hình cạnh tranh độc quyền và lợi thế theo quy mô của Avinash Dixit và Joseph Stiglitz (1977), Paul Krugman (1979, 1980).
  • Lý thuyết cạnh tranh hiện đại: Michael Porter (1990) xây dựng Mô hình Kim cương (Diamond Model) giải thích lợi thế vị trí quốc gia mang lại NLCT cho từng ngành cụ thể với bốn đỉnh (điều kiện nhân tố; điều kiện cầu; chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh; các ngành hỗ trợ và liên quan) cùng hai yếu tố bổ trợ là Chính phủ và Cơ hội. Các mô hình phái sinh khác được điểm lại gồm Ma trận TOWS của Heinz Weihrich (1999), mô hình chín nhân tố của Cho và Moon (2000, 2013).

Về nghiên cứu NLCT cấp ngành và các tiêu chí đo lường:

  • Momaya (1998) phân tích NLCT ngành theo 3 thành phần: cạnh tranh tài sản (đầu vào), cạnh tranh quy trình (chế biến) và cạnh tranh hiệu suất (đầu ra).
  • Các chỉ số đo lường dựa trên kết quả thương mại quốc tế: Chỉ số Balassa về Lợi thế so sánh hiển thị (RCA, 1965); Lợi thế thương mại tương đối (RTA) của Vollrath (1991); Chỉ số Lafay (LI) của Lafay (1992); Lợi thế so sánh hiển thị đối xứng (RSCA) của Dalum, Laursen và Villumsen (1998); Lợi thế so sánh tiết lộ bổ sung (ARCA) của Hoen và Oosterhaven (2006); Chỉ số NRCA của Yu, Cai và Leung (2009); Chỉ số xuất khẩu ròng (NEI) và chỉ số Grubel-Lloyd (Banterle & Carraresi, 2007). Các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu của Bojnec (2001), Seyoum (2007), Cai và Leung (2006), Munir và Sultan (2019). Tại Việt Nam có Nguyễn Xuân Thiên (2011), Lê Xuân Tạo (2015), Lê Tuấn Lộc (2017).
  • Hệ số chi phí nội nguồn (DRC): Sử dụng lần đầu bởi Michael Bahral (1956), hoàn thiện bởi Jagdish Bhagwati và Padma Desai (1970), Scott Pearson, Narongchai Akrasanee và Gerald Nelson (1976), Eric Monke và Scott Pearson (1989), Molla, Sabur và Begum (2015); ứng dụng tại Việt Nam bởi Đào Thế Hà và Thương (2011), Phạm Văn Hoá và Xuân (2012), Phục và cộng sự (2011), Nguyễn và Heidhues (2004).
  • Chỉ số hiệu suất cạnh tranh công nghiệp (CIP) của UNIDO (2013) gồm tám chỉ số phụ chia thành ba chiều cạnh.

Về NLCT trong ngành công nghiệp chế biến sữa:

  • Nghiên cứu của W. Bruce Traill và Eamonn Pitts (1998) tiếp cận khái niệm ngành cạnh tranh từ Bộ Nông nghiệp Canada. Nghiên cứu của Wijnands, Bremmers, van der Meulen và Poppe (2008, 2010) cùng Tacken, Banse, Batowska và Gardebroek (2009) xây dựng hệ thống đo lường tích hợp cho ngành sữa Liên minh Châu Âu (EU) thông qua tính điểm chuẩn có trọng số ngang nhau giữa các chỉ số tăng trưởng thị phần, RCA, thị phần xuất khẩu (EMS), năng suất lao động và tăng trưởng giá trị gia tăng (GTGT).
  • Các nghiên cứu chuyên biệt khác: Ohlan (2012) phân tích thị phần của 10 quốc gia sản xuất sữa lớn nhất; Bojnec và Fertő (2014) đánh giá RCA của 27 quốc gia EU giai đoạn 2000–2011; Kennedy, Harrison, Kalaitzandonakes, Peterson và Rindfuss (1997), Bavorova (2003), Van Berkum (2009) tiếp cận qua tỷ suất lợi nhuận; Jansik, Irz và Kuosmanen (2014) đánh giá chuỗi cung ứng sữa 8 nước vùng Baltic qua 5 nhóm tiêu chí; Couillard và Turkina (2015) dùng RCA, sản lượng, thị phần, cán cân thương mại và giá sữa; Viira và cộng sự (2015) nghiên cứu ngành sữa Estonia; Cele, Hennessy và Thorne (2022) phân tích ngành sữa Ireland theo hai cấp độ (trang trại/doanh nghiệp và thương mại).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  • Đa phần các nghiên cứu trước đây chỉ sử dụng đơn lẻ một nhóm chỉ số thương mại (như RCA, thị phần) hoặc nhóm chỉ số tài chính/lợi nhuận, dẫn đến bức tranh phiến diện (hoặc bỏ qua thị trường nội địa và sức mạnh kinh tế của ngành, hoặc chỉ phản ánh hiệu quả ngắn hạn của doanh nghiệp).
  • Nghiên cứu của Wijnands và cộng sự (2008, 2010) tuy đã tích hợp hai khía cạnh nhưng giả định trọng số ngang nhau thiếu căn cứ kiểm định và phương pháp điểm chuẩn bị biến động theo mẫu. Luận án khắc phục bằng cách sử dụng phép chuẩn hóa Z-score để quy đổi các chỉ tiêu thành phần và tổng hợp thành điểm số NLCT duy nhất, áp dụng xếp hạng trên tập mẫu 87 quốc gia.
  • Chưa có công trình nào lượng hóa thực nghiệm các yếu tố tác động đến NLCT của ngành CNCB sữa Việt Nam bằng mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian tích hợp đầy đủ các yếu tố của mô hình Kim cương Porter trong giai đoạn 1990–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Cạnh tranh cấp ngành: Luận án phân biệt rõ bốn khái niệm:
    • Năng lực cạnh tranh: Khả năng của ngành duy trì và mở rộng vị thế kinh tế, chống chọi với sức ép trên cả thị trường nội địa và quốc tế, dựa trên nền tảng sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả bền vững.
    • Lợi thế cạnh tranh: Thuộc tính cụ thể (chi phí thấp hoặc khác biệt hóa) được tạo lập chủ động thông qua chiến lược kinh doanh và đổi mới sáng tạo, tính theo giá thị trường (Porter, 1990; Siggel, 2006).
    • Lợi thế so sánh: Dựa trên chi phí cơ hội và tính sẵn có tương đối của các yếu tố sản xuất tự nhiên trong điều kiện cân bằng phi thương mại.
    • Năng suất: Hiệu suất nội bộ của quá trình sản xuất (đầu ra trên đầu vào); chỉ chuyển hóa thành NLCT khi gắn liền với các ngành có khả năng thương mại hóa.
  • Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter (1990) gồm sáu nhóm nhân tố: (1) Điều kiện nhân tố sản xuất; (2) Điều kiện cầu; (3) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; (4) Chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh nội ngành; (5) Yếu tố Chính phủ; (6) Yếu tố Cơ hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu định tính và tại bàn: Thu thập, tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các văn bản chính sách, báo cáo chuyên ngành; sử dụng phương pháp mô tả, phân tích, so sánh để đánh giá bối cảnh ngành sữa toàn cầu và Việt Nam, thực trạng chuỗi giá trị và cơ cấu thị trường sữa.
  2. Phương pháp đo lường NLCT ngành CNCB sữa:
    • Dựa trên cách tiếp cận của Latruffe (2010), Wijnands và cộng sự (2008, 2015), luận án đo lường NLCT qua hai khía cạnh: Khía cạnh kinh tế (EC - Economics Competitiveness) và Khía cạnh thương mại (TC - Trade Competitiveness).
    • Sử dụng kỹ thuật chuẩn hóa dữ liệu thông qua phép biến đổi Z (Z-score) cho từng chỉ số thành phần trên tập dữ liệu của 87 quốc gia, sau đó tổng hợp thành chỉ số NLCT tổng thể.
    • Phân tích các chỉ số tài chính phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến sữa (điển hình như Vinamilk) nhằm kiểm tra điều kiện phát triển bền vững của ngành.
  3. Phương pháp ước lượng kinh tế lượng:
    • Mô hình tự hồi quy phân phối trễ (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) được thực hiện trên phần mềm Eviews 10 để ước lượng tác động ngắn hạn và dài hạn của các biến đại diện theo mô hình Kim cương.
    • Các kiểm định kinh tế lượng đi kèm: Kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) để xác định tính dừng của chuỗi số liệu; Kiểm định đường bao (ARDL Bounds Test) để xác định mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn; Kiểm định lựa chọn độ trễ tối ưu (Optimal Lag); Kiểm định độ ổn định của mô hình bằng chuỗi tổng tích lũy sai số dự báo (CUSUM) và CUSUM平方 (CUSUM of Squares); Các kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình (tự tương quan, phương sai sai số thay đổi, phân phối chuẩn của phần dư).

Dữ liệu nghiên cứu

Luận án sử dụng hoàn toàn dữ liệu thứ cấp từ các nguồn chính thống và công khai:

  • Dữ liệu quốc tế: UN Comtrade, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAOSTAT), Cơ sở dữ liệu phát triển thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
  • Dữ liệu trong nước: Tổng cục Thống kê (GSO), Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA), báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sữa niêm yết (Vinamilk).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP NGÀNH

Chương 1 khái quát lịch sử các học thuyết kinh tế từ lý thuyết thương mại cổ điển đến lý thuyết cạnh tranh hiện đại, phân loại các lĩnh vực nghiên cứu NLCT theo 5 cấp độ (sản phẩm, doanh nghiệp, ngành, khu vực, quốc gia). Tác giả tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đo lường NLCT và các yếu tố ảnh hưởng, đặc biệt là trong ngành sữa. Chương này chỉ ra ba khoảng trống chính: sự thiếu hụt định nghĩa thống nhất về NLCT ngành CNCB sữa; sự mất cân đối khi các nghiên cứu trước chỉ chọn khía cạnh thương mại hoặc khía cạnh tài chính; và khoảng trống về thực nghiệm kinh tế lượng đánh giá tổng thể các YTAH đến NLCT ngành CNCB sữa Việt Nam.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP NGÀNH

Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của cạnh tranh và NLCT, phân biệt rạch ròi giữa NLCT với lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh và năng suất. Luận án định vị ngành CNCB sữa theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và phân tích chuỗi cung ứng sữa giản đơn. Tác giả xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá NLCT ngành CNCB sữa gồm:

  • Tiêu chí kinh tế: Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng (GTGT), tăng trưởng tỷ trọng của ngành trong toàn ngành kinh tế, tăng trưởng năng suất.
  • Tiêu chí thương mại: Chỉ số lợi thế thương mại tương đối (RTA), thị phần xuất khẩu (EMS), chỉ số xuất khẩu ròng (NEI).
  • Tiêu chí hiệu quả sản xuất kinh doanh: Đóng vai trò là điều kiện đảm bảo cho NLCT tồn tại bền vững. Chương 2 cũng phân tích cơ chế tác động của 6 thành phần trong mô hình Kim cương mở rộng của Michael Porter đối với ngành CNCB sữa.

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN SỮA VIỆT NAM

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm trung tâm của luận án:

  • Bối cảnh thị trường: Sản lượng sữa thế giới và cơ cấu xuất nhập khẩu giai đoạn 2017–2019; tại Việt Nam, quy mô đàn bò sữa và sản lượng sữa tươi nguyên liệu tăng nhanh nhưng cơ cấu chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Vinamilk duy trì vị trí dẫn đầu thị phần, theo sau là TH True Milk, FrieslandCampina, Mộc Châu Milk.
  • Kết quả đo lường NLCT qua phương pháp chuẩn hóa Z-score (mẫu 87 quốc gia):
    • NLCT tổng thể của ngành CNCB sữa Việt Nam đạt thứ hạng tương đối cao trên thế giới, xếp vị trí 30/87 quốc gia trong giai đoạn 2000–2020.
    • Phân rã cấu phần cho thấy: Điểm số ở khía cạnh kinh tế (EC) của ngành sữa Việt Nam đạt thứ hạng cao nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm; ngược lại, điểm số ở khía cạnh thương mại (TC) còn thấp, chỉ số RTA ở mức âm nhưng đang có xu hướng cải thiện tích cực theo thời gian.
    • Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đầu ngành (Vinamilk năm 2022) phản ánh nền tảng tài chính lành mạnh, tỷ suất sinh lời tốt hỗ trợ cho năng lực cạnh tranh chung.
  • Kết quả ước lượng các YTAH bằng mô hình ARDL (giai đoạn 1990–2020):
    • Kiểm định ADF xác nhận các biến có bậc tích hợp I(0) hoặc I(1), thỏa mãn điều kiện ước lượng ARDL. Kiểm định đường bao (Bounds Test) khẳng định tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn. Kiểm định CUSUM và CUSUM of Squares cho thấy mô hình ổn định.

Bảng tổng hợp kết quả tác động của các biến giải thích trong mô hình ARDL đến NLCT ngành CNCB sữa Việt Nam:

Tên biến Ký hiệu Đại diện cho nhân tố (Mô hình Kim cương) Tác động trong ngắn hạn Tác động trong dài hạn Ý nghĩa kinh tế và thực tiễn từ kết quả nghiên cứu
Quy mô đàn bò sữa HS Điều kiện nhân tố sản xuất Thuận chiều (+) Thuận chiều (+) Tăng quy mô đàn bò giúp chủ động nguồn nguyên liệu tươi, giảm phụ thuộc sữa bột nhập khẩu, cải thiện NLCT.
Tỷ giá hối đoái thực RER Điều kiện nhân tố / Môi trường vĩ mô Thuận chiều (+) Thuận chiều (+) Đồng nội tệ giảm giá thực tế kích thích xuất khẩu và tạo lợi thế cạnh tranh về giá đối với sản phẩm sữa nội địa so với hàng nhập ngoại.
Chính sách phát triển ngành DP Yếu tố Chính phủ Thuận chiều (+) Thuận chiều (+) Các chiến lược, quy hoạch và hỗ trợ thể chế từ Nhà nước tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy ngành mở rộng quy mô.
Giá sữa nguyên liệu trong nước MPr Điều kiện nhân tố sản xuất Ngược chiều (-) Ngược chiều (-) Hệ số mang dấu âm về mặt thống kê, nhưng tác giả thảo luận rằng áp lực giá nguyên liệu tạo động lực buộc các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quản trị chi phí để nâng cao NLCT.
Mức tiêu thụ sữa bình quân MC Điều kiện cầu Thuận chiều (+) Ngược chiều (-) Ngắn hạn cầu nội địa tăng kích thích mở rộng sản xuất; dài hạn nếu nguồn cung trong nước không đáp ứng kịp sẽ kích thích dòng sữa ngoại nhập khẩu chiếm lĩnh thị trường.
Độ mở thương mại OPEN Môi trường kinh tế / Thể chế Ngược chiều (-) Thuận chiều (+) Ngắn hạn mở cửa làm tăng sức ép thâm nhập từ các hãng sữa lớn nước ngoài; dài hạn thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tái cấu trúc, nâng cao năng lực để cạnh tranh quốc tế.

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả ước lượng mô hình ARDL tại Bảng 3.12, Bảng 3.13 và nội dung thảo luận Chương 3 của luận án.

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN SỮA VIỆT NAM

Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển đến năm 2032 theo dự báo của OECD/FAO về tiêu thụ và sản lượng sữa thế giới. Tác giả đối chiếu quan điểm, mục tiêu của Nhà nước (Chiến lược phát triển chăn nuôi) với quan điểm của luận án để đưa ra bốn nhóm giải pháp:

  1. Giải pháp thích ứng với biến động thị trường: Chủ động nguồn cung nguyên liệu trong nước, theo dõi sát diễn biến giá nguyên liệu bột sữa toàn cầu và xu hướng tiêu dùng chuyển dịch sang sản phẩm hữu cơ, sữa hạt, chế phẩm giá trị gia tăng cao.
  2. Giải pháp cải thiện trực tiếp các chỉ tiêu NLCT: Gia tăng giá trị gia tăng công nghiệp chế biến, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để nâng cao chỉ số RTA và thị phần quốc tế (EMS), đẩy mạnh tỷ trọng sữa chế biến từ sữa tươi nội địa.
  3. Giải pháp thúc đẩy các yếu tố ảnh hưởng theo mô hình Kim cương:
    • Tối ưu hóa quy mô và nâng cao năng suất đàn bò sữa (chuyển dịch mô hình chăn nuôi từ nông hộ sang trang trại tập trung công nghệ cao).
    • Nâng cấp mạng lưới công nghiệp hỗ trợ (bao bì, bảo quản lạnh, thức ăn chăn nuôi, giống bò).
    • Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới dây chuyền chế biến và tối ưu hóa hệ thống logistics.
  4. Kiến nghị cụ thể:
    • Đối với Chính phủ: Hoàn thiện quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa gắn liền nhà máy chế biến; bình ổn chính sách vĩ mô; kiểm soát tỷ giá hối đoái linh hoạt; tăng cường công tác phòng vệ thương mại.
    • Đối với các Bộ, Ngành: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sữa tươi nguyên liệu; Bộ Công Thương hỗ trợ xúc tiến thương mại, khai thác ưu đãi từ các hiệp định FTA (CPTPP, EVFTA, AANZFTA), thanh tra chống gian lận thương mại và minh bạch hóa ghi nhãn sữa.
    • Đối với Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA): Tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa nông dân và nhà máy chế biến; cập nhật cơ sở dữ liệu thị trường; nâng cao năng lực dự báo và đại diện bảo vệ quyền lợi hội viên trong các vụ việc tranh chấp thương mại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  • Hoàn thiện nội hàm khái niệm NLCT cấp ngành áp dụng riêng cho ngành CNCB sữa: Xác định rõ NLCT ngành là khả năng chống chọi và mở rộng quy mô trên cả thị trường nội địa lẫn thị trường quốc tế, dựa trên cơ sở đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp trong ngành.
  • Thiết lập phương pháp đo lường định lượng tích hợp: Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu đa chiều (kết hợp tiêu chí kinh tế và tiêu chí thương mại) thông qua phép biến đổi Z (Z-score) để tính toán điểm số tổng hợp, khắc phục nhược điểm của các chỉ số đơn lẻ và sự bất định của việc gán trọng số chủ quan.
  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho mô hình Kim cương của Michael Porter: Xác thực và lượng hóa chiều hướng tác động của các nhân tố (nhân tố sản xuất, cầu nội địa, tỷ giá, chính sách nhà nước, độ mở thương mại) trong cả ngắn hạn và dài hạn đối với một ngành chế biến thực phẩm cụ thể tại quốc gia đang phát triển.

Phát hiện mới từ thực tiễn nghiên cứu

  • Ngành CNCB sữa Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng lớn nhưng đang đối diện với áp lực cạnh tranh gay gắt từ làn sóng nhập khẩu sau khi thuế quan theo hiệp định AANZFTA về 0% từ năm 2018.
  • Xếp hạng NLCT quốc tế của ngành sữa Việt Nam đứng thứ 30 trong tổng số 87 quốc gia được khảo sát giai đoạn 2000–2020. Trong đó, các chỉ tiêu kinh tế thể hiện ưu thế vượt trội nhưng có xu hướng chậm lại, còn các chỉ tiêu thương mại còn yếu nhưng đang trên đà cải thiện.
  • Kết quả mô hình ARDL khẳng định: Quy mô đàn bò sữa (HS), tỷ giá hối đoái thực (RER) và chính sách phát triển (DP) có tác động tích cực thúc đẩy NLCT trong cả ngắn hạn và dài hạn; Giá sữa nguyên liệu (MPr) mang hệ số ngược chiều nhưng giữ vai trò là sức ép buộc ngành tái cơ cấu; Độ mở thương mại (OPEN) tác động tiêu cực trong ngắn hạn do sức ép cạnh tranh nhưng kích thích NLCT trong dài hạn; Tiêu thụ sữa bình quân (MC) có tác động tích cực ngắn hạn nhưng tiêu cực dài hạn nếu năng lực cung ứng nội địa không theo kịp tốc độ tăng của cầu.
  • Luận án nhận diện các nút thắt cản trở ngành sữa Việt Nam gồm: Chi phí sản xuất sữa nguyên liệu cao, năng suất đàn bò chưa tối ưu, khả năng tiếp cận vốn đầu tư dài hạn của nông hộ còn khó khăn, điều kiện khí hậu nhiệt đới bất lợi cho giống bò ngoại nhập và sự lệ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ một số hạn chế nội tại và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo:

  • Hạn chế về nguồn dữ liệu chuỗi thời gian: Một số chỉ tiêu thống kê của ngành sữa Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2000 chưa thực sự đồng bộ và liên tục, buộc tác giả phải nội suy hoặc sử dụng các nguồn công bố quốc tế để đảm bảo tính nhất quán của chuỗi số liệu từ năm 1990 đến 2020.
  • Giới hạn về phạm vi mẫu nghiên cứu định lượng: Mô hình đo lường NLCT được tính toán cho 87 quốc gia có hoạt động xuất nhập khẩu sữa tương đối đều đặn; nhiều quốc gia sản xuất sữa quy mô nhỏ bị loại khỏi mẫu do thiếu hụt dữ liệu thống kê thương mại tại UN Comtrade và FAOSTAT.
  • Định hướng nghiên cứu tương lai: Cần tiếp tục mở rộng mô hình ước lượng bằng cách bổ sung dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp (bảng dữ liệu mảng - panel data) để đánh giá sâu hơn tác động của năng lực quản trị, chi phí R&D và chuyển đổi số đến NLCT của từng phân khúc sản phẩm sữa chuyên biệt (sữa bột công thức, sữa thực vật, phô mai).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên kinh tế: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về chuẩn hóa Z-score trong xây dựng chỉ số tổng hợp cấp ngành và quy trình ứng dụng mô hình ARDL trên Eviews 10 để xử lý chuỗi số liệu thời gian có bậc tích hợp hỗn hợp I(0) và I(1). Các chương 1, chương 2 và chương 3 là phần đáng tham khảo nhất về mặt học thuật.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Các số liệu định lượng về mức độ phụ thuộc nguyên liệu (60%), tác động của độ mở thương mại và biến động tỷ giá cung cấp căn cứ thực tiễn để rà soát chính sách bảo hộ hợp pháp, quy hoạch vùng nguyên liệu và thiết lập các hàng rào kỹ thuật kiểm soát chất lượng sữa nhập khẩu (tham khảo Chương 3 và Chương 4).
  • Đối với Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA) và các doanh nghiệp chế biến sữa: Bức tranh phân tích cấu trúc thị trường, thị phần và áp lực cạnh tranh từ các cường quốc xuất khẩu sữa (New Zealand, Mỹ, Australia) giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng chiến lược liên kết dọc với hộ chăn nuôi, tái cấu trúc chuỗi cung ứng lạnh và định vị dòng sản phẩm giá trị gia tăng cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam đứng thứ bao nhiêu về năng lực cạnh tranh trên thế giới theo kết quả tính toán của luận án?
Theo kết quả tính toán chỉ số NLCT tổng hợp sử dụng phép chuẩn hóa Z-score giai đoạn 2000–2020, ngành CNCB sữa Việt Nam xếp thứ 30 trong tổng số 87 quốc gia được đưa vào phân tích so sánh.

2. Tỷ lệ tự chủ nguồn sữa nguyên liệu trong nước của Việt Nam đạt bao nhiêu phần trăm?
Nguồn sữa tươi nguyên liệu cung ứng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu chế biến của toàn ngành, 60% nguyên liệu còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài.

3. Ba quốc gia nào xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa lớn nhất vào thị trường Việt Nam?
Ba quốc gia xuất khẩu sữa lớn nhất vào Việt Nam là New Zealand, Australia và Mỹ. Tổng giá trị nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ ba nước này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch nhập khẩu sữa của Việt Nam.

4. Mức thuế suất nhập khẩu đối với sữa nguyên liệu từ khu vực ASEAN – Úc – New Zealand vào Việt Nam là bao nhiêu và áp dụng từ năm nào?
Thuế suất đối với sữa nguyên liệu nhập khẩu từ khu vực này đã giảm về mức 0% kể từ năm 2018 theo các cam kết cắt giảm thuế quan của Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Úc – New Zealand (AANZFTA).

5. Kết quả kiểm định mô hình ARDL cho thấy yếu tố tiêu thụ sữa bình quân (MC) tác động như thế nào đến NLCT ngành sữa?
Biến tiêu thụ sữa bình quân (MC) có tác động tích cực (thuận chiều) đến NLCT của ngành CNCB sữa trong ngắn hạn do kích thích mở rộng thị trường, nhưng lại có tác động tiêu cực (ngược chiều) trong dài hạn do năng lực cung cấp nguyên liệu nội địa không đáp ứng kịp mức tăng trưởng của cầu, dẫn đến gia tăng nhập khẩu và lấn át sản xuất trong nước.

Kết luận

Luận án của tác giả Đào Duy Hà đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh cấp ngành và xây dựng thành công bộ công cụ đo lường định lượng tích hợp thông qua phép chuẩn hóa Z-score cho ngành công nghiệp chế biến sữa trên tập mẫu 87 quốc gia. Kết quả thực nghiệm xác định ngành sữa Việt Nam đứng thứ 30/87 về năng lực cạnh tranh tổng thể giai đoạn 2000–2020, sở hữu nền tảng kinh tế tăng trưởng tốt nhưng còn hạn chế về chỉ số thương mại quốc tế. Thông qua mô hình kinh tế lượng ARDL giai đoạn 1990–2020, công trình đã lượng hóa rõ nét vai trò thúc đẩy của quy mô đàn bò sữa, tỷ giá thực và chính sách phát triển, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về giá nguyên liệu và sức ép mở cửa thị trường. Các phát hiện thực nghiệm này cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm tái cơ cấu chuỗi giá trị và gia tăng năng lực cạnh tranh cho ngành sữa Việt Nam trong giai đoạn mới.