CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP NGÀNH 1. Tổng quan lịch sử phát triển của các lý thuyết cạnh tranh Tư duy cạnh tranh bắt nguồn từ các lý thuyết thương mại và ý nghĩa của nó thay đổi theo thời gian và bối cảnh mà nó được áp dụng. Ngay từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, ý tưởng của Chủ nghĩa trọng thương cho rằng con đường phát triển của một quốc gia được xác định bởi khả năng duy trì khẩu ròng (Sihlobo, 2016). Những người theo chủ nghĩa trọng thương coi thương mại như một trò chơi có tổng bằng không, họ ủng hộ sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ (Smit, 2010).
Sau đó, Adam Smith chỉ trích rằng nguyên tắc thương mại theo chủ nghĩa trọng thương chỉ mang lại lợi ích cho một số ít các quốc gia trong ngắn hạn và sẽ làm suy yếu nền kinh tế của các quốc gia đó trong dài hạn. Lý thuyết của Smith A. (1776) về lợi thế tuyệt đối giải thích rằng, “Quốc gia A có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia B nếu quốc gia đó có thể sản xuất cùng một lượng hàng hóa nhưng sử dụng ít nguồn lực trong nước hơn so với quốc gia B” (Smith A. Từ đó, quốc gia A nên tập trung nỗ lực của mình vào các mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia đối thủ cạnh tranh về giao dịch thương mại.
Chuyên môn hóa là trọng tâm trong lập luận của Smith (Smit, 2010). Sau đó, các nhà phê bình công trình của Adam Smith nhấn mạnh sự thiếu sót trong lời giải thích về việc điều gì sẽ xảy ra trong trường hợp một nước không nắm giữ lợi thế tuyệt đối với tất cả các hàng hóa mà quốc gia đó sản xuất hoặc ngược lại. Bù đắp thiếu sót này, David Ricardo đã mở rộng lý thuyết lợi thế tuyệt đối sang LTSS. Theo Ricardo, “Mặc dù tồn tại những bất lợi về chi phí tuyệt đối khi sản xuất hàng hóa và dịch vụ (HH&DV), một quốc gia vẫn có thể xuất khẩu những hàng hóa có chi phí tuyệt đối thấp nhất và nhập khẩu những hàng hóa có chi phí tuyệt đối lớn nhất” (Ricardo, 1817).
Lý thuyết này đã cung cấp một lời giải thích thuyết phục hơn cho lý do tại sao thương mại nên được coi như một trò chơi tổng dương. Đến cuối thế kỷ 19, các nhà kinh tế học Tân cổ điển lập luận rằng trường phái kinh tế Cổ điển đã thất bại trong việc giải thích sự khác biệt về năng suất giữa các quốc gia. Điều này đã dẫn đến việc hình thành lý thuyết Heckscher-Ohlin (H-O). Heckscher (1919) và Ohlin (1933) đã sử dụng tỷ lệ nhân tố để giải thích sự khác biệt về chi phí cơ hội và cường độ yếu tố (đất đai và vốn) giữa các quốc gia.
Lý thuyết H-O cho rằng: “Thương mại giữa các quốc gia bắt nguồn từ sự dồi dào trong yếu tố nào đó của các 9 quốc gia so với quốc gia khác, do đó họ sẽ chỉ xuất khẩu hàng hóa sử dụng tương đối nhiều yếu tố mà quốc gia đó dồi dào và nhập khẩu những hàng hóa thâm dụng yếu tố khác. 13) Chủ nghĩa Kinh tế học Trọng thương Lý thuyết thương mại Lợi thế tuyệt đối – Smith A. (1776) Lợi thế nhờ năng suất lao động Lợi thế so sánh – Ricardo (1817) Chuyên môn hóa thương mại Lý thuyết tỷ lệ nhân tố Heckscher (1919) và Ohlin (1933) Nghịch lý Leontief (1953) Nhu cầu giống nhau Linder (1961) Lý thuyết chu kỳ sản phẩm R Vernon (1966) Lợi thế theo quy mô P.1: Sự chuyển đổi từ lý thuyết thương mại sang lý thuyết cạnh tranh Nguồn: Cho and Moon (2013) Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả không thực sự như vậy. Điển hình là nghiên cứu của Leontief (1953) chỉ ra rằng lý thuyết H-O không đúng với trường hợp của Mỹ.
Nghịch lý này được gọi là nghịch lý Leontief. Các kết quả tương tự cũng được báo cáo trong các nghiên cứu dựa trên dữ liệu của Nhật Bản, Đức, Ấn Độ và Canada (Baldwin, 1979). Một số nghiên cứu đưa ra sự khác biệt về vốn nhân lực như một lời giải thích cho nghịch lý (Bowen, 1983). Nghịch lý Leontief đã khiến các nhà kinh tế học tiếp tục tìm kiếm những giải 10 thích thay thế cho lý thuyết H-O.
Trong đó, lý thuyết của Linder (1961) tương phản với lý thuyết H-O (vốn chỉ tập trung vào các ưu đãi của yếu tố bên cung). Quan điểm của Linder là “các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người tương đương nhau có khả năng giao dịch thương mại với nhau và hàng hóa được trao đổi giữa các quốc gia cũng có đặc điểm giống nhau” (Linder, 1961). Trong khi đó, R Vernon (1966) đề xuất khái niệm chu kỳ sống của sản phẩm và cho rằng hàng hóa được sản xuất ở các nền kinh tế phát triển sẽ được cung cấp cho các nền kinh tế kém phát triển hơn. Sau đó, mỗi sản phẩm có vòng đời riêng với 4 giai đoạn: giai đoạn sản phẩm mới, giai đoạn trưởng thành và giai đoạn tiêu chuẩn hóa.
Kể từ Thế chiến thứ II, thương mại hai chiều trong các ngành tương tự nhau chiếm một lượng lớn và ngày càng tăng. Sự thay đổi này đã khiến các tư tưởng truyền thống về lợi nhuận không đổi theo quy mô trong lý thuyết LTSS không thể giải thích được thương mại nội ngành. Cần có một cách tiếp cận mới để giải thích những lợi thế của thương mại do sản xuất quy mô lớn, kinh nghiệm tích lũy và những lợi thế do đổi mới. Hơn nữa, để giải thích lợi thế theo quy mô cần có một cấu trúc thị trường mới hoàn toàn khác với cạnh tranh hoàn hảo (P.
Bước đột phá đến vào cuối những năm 1970 khi các nhà nghiên cứu đưa ra các mô hình mới về cạnh tranh độc quyền (A. Dixit & Stiglitz, 1977) cho phép các nhà lý thuyết thương mại có thể mô hình hóa sự cạnh tranh độc quyền trong một khuôn khổ cân bằng chung. Mô hình cạnh tranh độc quyền tập trung vào lợi thế quy mô làm cốt lõi trong việc giải thích thương mại hơn là cạnh tranh không hoàn hảo. Sự đóng góp của lợi thế theo quy mô là rất quan trọng trong lý thuyết thương mại quốc tế (TMQT), vì nó cho thấy rằng một quốc gia vẫn có thể xuất khẩu hàng hóa nhờ lợi thế theo quy mô mà không nhất thiết phải có LTSS về các yếu tố sản xuất.
Nhiều ngành công nghiệp toàn cầu được đặc trưng bởi sự cạnh tranh độc quyền (Yoffie, 1993), nơi mà quy mô kinh tế có thể hạn chế số lượng đối thủ cạnh tranh. Vấn đề là mô hình này mở ra lập luận rằng chính sách của chính phủ có thể thay đổi các điều khoản cạnh tranh độc quyền theo hướng chuyển lợi nhuận dư thừa từ các DN nước ngoài sang trong nước (P. Nó cũng củng cố quan điểm rằng các quốc gia giống như các DN, cạnh tranh để giành thị phần trên thị trường thế giới và Chính phủ có vai trò chính trong trò chơi cạnh tranh này (Dunning, 1995). Mặc dù các lý thuyết thương mại mới về cạnh tranh độc quyền thách thức tính chính thống của thương mại tự do, nhưng chúng không đưa ra bất kỳ lời giải thích nào về địa điểm sản xuất thực tế sẽ diễn ra.
Porter (1990) đã đặt câu hỏi về khả năng của lý thuyết thương mại truyền thống trong việc giải thích lợi thế địa điểm và đề xuất lý thuyết 11 cạnh tranh mới để giải thích lợi thế địa điểm dẫn đến NLCT của các quốc gia. Câu hỏi chính mà ông cố gắng trả lời là tại sao một số quốc gia lại thành công trong các ngành cụ thể hơn những quốc gia khác. Ông đã phát triển Mô hình Kim cương để phân tích các yếu tố lợi thế quốc gia mang đến NLCT của các lĩnh vực/ngành cụ thể ở một quốc gia nhất định. Bốn góc của viên kim cương là điều kiện nhân tố; điều kiện cầu; chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh; các ngành hỗ trợ và liên quan.
Ngoài ra, có hai nhân tố bổ sung quan trọng khác có tác động đến tất cả bốn nhân tố chính trong mô hình, đó là yếu tố cơ hội và Chính phủ. Weihrich (1999) thì sử dụng Ma trận TOWS (Mối đe dọa, Cơ hội, Điểm yếu, Điểm mạnh) như một giải pháp thay thế cho mô hình Kim cương của Porter trong việc phân tích những lợi thế và bất lợi cạnh tranh của Đức. Weihrich kết luận rằng mặc dù mô hình của Porter cung cấp một khuôn khổ hữu ích để phân tích môi trường kinh tế, nhưng nó không yêu cầu các cơ quan của Chính phủ phát triển các chiến lược nhằm tạo ra và duy trì LTCT cho quốc gia. Trong khi đó, Ma trận TOWS cung cấp một khuôn khổ để phát triển các chiến lược quốc gia.
Cho and Moon (2000) đã đề xuất mô hình chín nhân tố, bao gồm cả yếu tố vật lý và con người. Ba khía cạnh được xem xét. Đầu tiên là yếu tố vật chất: là các yếu tố cơ bản quyết định tiềm năng cạnh tranh của một quốc gia như tài nguyên ưu đãi, các ngành công nghiệp liên quan, nhu cầu trong nước, và môi trường kinh doanh. Thứ hai là yếu tố con người: là chủ thể huy động bốn yếu tố vật lý nêu trên, từ đó tạo ra NLCT.
Thứ ba là các yếu tố bên ngoài như các sự kiện may rủi. Có một sự tương đồng giữa mô hình Kim và mô hình chín nhân tố: bốn trong số chín yếu tố giống hệt nhau (tài nguyên ưu đãi, công nghiệp liên quan, nhu cầu trong nước và các sự kiện may rủi), trong khi một yếu tố tương tự về bản chất, đó là chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh so với môi trường kinh doanh. Sự khác biệt nằm ở chỗ mô hình chín nhân tố nhấn mạnh các yếu tố con người bằng cách tách người lao động khỏi các nguồn lực ưu đãi. Theo Grant (1991), đóng góp chính của Porter là giải thích các mô hình thương mại và đầu tư trong nền kinh tế thế giới mới tốt hơn các lý thuyết hiện có về thương mại và đầu tư quốc tế.
Trong khi đó, Waverman (1995) chỉ trích rằng phân tích của Porter là không đạt yêu cầu vì không có lý thuyết cốt lõi, không có sức mạnh dự đoán và đó là một phân tích cân bằng từng phần điển hình. Tuy nhiên, trong khi các lý thuyết thương mại truyền thống và lý thuyết thương mại mới chỉ giải thích tại sao thương mại diễn ra mà không giải thích các YTAH đến NLCT của các DN hay ngành, thì đó là điều mà Porter cố gắng giải thích trong Mô hình Kim cương.