Chương 1: Những vấn đề chung về ngành công nghiệp sữa Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) Chương 2: Ngành công nghiệp sữa Việt Nam: Lịch sử phát triển và thực Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) trạng Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp sữa Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và đến năm 2020 Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) Formatted: Font: Times New Roman, Dutch (Netherlands) 4 Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA Trong chƣơng đầu của luận văn chúng tôi tập trung vào một số vấn đề có ý nghĩa nhƣ những căn cứ chung cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn ở các chƣơng sau của luận văn. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA 1. Vai trò cơ bản của ngành công nghiệp sữa Chức năng chủ yếu của ngành công nghiệp sữa là sản xuất, cung ứng sữa và các sản phẩm đa dạng chế biến từ sữa phù hợp với kinh tế thị trƣờng, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngƣời tiêu dùng. Riêng ở Việt Nam theo số thống kê, năm 2000 mức tiêu dùng sữa bình quân trên một đầu ngƣời của ngƣời đạt khoảng 6 lít; năm 2002 là 6,7 lít; năm 2005 là 8 lít và dự báo đến năm 2010 sẽ đạt khoảng 12 lít.
Ngành công nghiệp sữa góp phần thúc đẩy sự liên kết nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ. Thực tế cho thấy, sự phát triển của ngành công nghiệp sữa đã kéo theo sự phát triển của các ngành nông nghiệp và dịch vụ, thể hiện khá rõ ở trạng thái tƣơng đối sôi động sôi động của ngành chăn nuôi bò sữa và của mạng lƣới phân phối các sản phẩm về sữa ở Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại đây. Mặt khác, ngành công nghiệp sữa còn góp phần giải quyết việc làm cho xã hội (cả ở ba khâu: sản xuất và cung ứng nguyên liệu đầu vào; chế biến sản phẩm và trong hệ thống mạng lƣới tiêu thụ các loại thành phẩm). Chỉ riêng ở khâu sản xuất, cung ứng nguyên liệu đầu vào là sữa tƣơi, chƣơng trình phát triển đàn bò sữa đã thu hút đáng kể lực lƣợng lao động nông thông, giải quyết một khối lƣợng việc làm đáng kể cho nông dân.
Ngành công nghiệp sữa đã và sẽ tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam. Bên cạnh đó, lực lƣợng bác sĩ thú y chuyên sâu chăm sóc, hỗ trợ cho chăn nuôi bò sữa Formatted: Position: Horizontal: Center, cũng phát triển. Nhiều ngành nghề mới đang hình thành ở nông thôn nhƣ Relative to: Margin 5 trồng cỏ, sản xuất thức ăn, phối giống. sẽ thu hút hàng ngàn lao động góp phần tạo bƣớc chuyển quan trọng cho nông thôn Việt Nam trên con đƣờng hiện đại hoá, công nghiệp hoá.Với khâu chế biến, là ngành chế biến thực phẩm có trang thiết bị hiện đại nên lực lƣợng lao đông ở ngành này đƣợc đào tạo và có tay nghề cao, thu hút rất nhiều công nhân kỹ thuật và cán bộ kỹ thuật.
Khâu tiêu thụ sản phẩm cũng cần một lực lƣợng lớn lao động để cung ứng sản phẩm sữa trên khắp thị trƣờng 84 triệu dân Việt Nam, để sản phẩm sữa cải thiện cuộc sống của ngƣời dân. Ngành công nghiệp sữa có vai trò nhất định đối với sự phát triển của nền công nghiệp Việt Nam, và trong một số năm gần đây đã đạt tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng bình quân của toàn ngành công nghiệp. Tính theo giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 1996 – 2000 đạt tốc độ tăng trƣởng là 20%/ năm trong khi toàn ngành công nghiệp là 13,57%/ năm trong cùng thời kỳ 1996- 2000 (Nguồn: Bộ Công nghiệp) Ngành công nghiệp sữa cũng là ngành đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nƣớc, tiêu biểu là Vinamilk: Bảng 1.1 : Kết quả sản xuất kinh doanh của Vinamilk ( 2003 - 2005 ) Đơn vị tính: triệu đồng 2003 2004 2005 So sánh ( % ) Chỉ tiêu 2004/2003 2005/2004 Tổng giá trị tài sản 2.936 96 152 Doanh thu thuần 3.784 99 149 Lợi nhuận từ hoạt động 124 713.833 63 kinh doanh Lợi nhuận khác 108.767 10 381 Lợi nhuận trƣớc thuế 822.600 56 130 Lợi nhuận sau thuế 512.671 90 112 Nộp ngân sách 522.000 76 87 Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức 15% 17% 113 Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin 6 (Nguồn: Tài liệu tham khảo số 4)(Nguồn: Công ty cổ phần sữa Việt Nam) Thị trƣờng sữa Việt Nam hiện nay rất đa dạng về cả chủng loại lẫn chất lƣợng.Với dân số 84 triệu ngƣời và mức tiêu thụ sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa còn có xu hƣớng tăng mạnh. Việt Nam là một thị trƣờng khá hấp dẫn với các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc.
Tham gia vào cạnh tranh,ngành công nghiệp sữa Việt Nam đã đang và sẽ góp phần làm cho hoạt động của thị trƣờng ngày càng sôi động. Một số đặc điểm chính của ngành công nghiệp sữa 1. Đặc điểm của nguyên liệu đầu vào Ngành sữa Việt Nam hiện nay mới chỉ tự túc đƣợc khoảng 13% nguyên liệu phục vụ nhu cầu chế biến và tiêu dùng trong nƣớc. Số còn lại đƣợc nhập khẩu dƣới dạng bột sữa nguyên liệu, sữa bột các loại, sữa đặc có đƣờng, sữa tƣơi tiệt trùng, phomat, bơ, kem.từ New Zealand, Hà Lan, Pháp, Đan Mạch,.
và phần lớn nhập khẩu qua cảng thành phố Hồ Chí Minh. Trong cơ chế thị trƣờng hiện nay , việc nhập khẩu các sản phẩm sữa nhìn chung không quá khó khăn khó khăn.Tuy nhiên, do chƣa chủ động đƣợc nguồn nguyên liệu đầu vào và giá sữa nguyên liệu trên thị trƣờng quốc tế lại luôn trong tình trạng biến động, hoạt động sản xuất kinh doanh của của ngành công nghiệp sữa nói chung và của Vinamilk nói riêng đã vấp phải không ít trở ngại. Ngoài sữa bột nguyên liệu, nhiều loại phụ liệu và vật tƣ cho sản xuất vẫn phải nhập nhƣ dầu bơ, các loại bao bì. Theo số liệu của Vinamilk , trong cơ cấu giá thành sản phẩm sữa bột hơn 68% là chi phí nguyên liệu, vật tƣ nhập khẩu.
Trong đó khoảng 42% giá thành là chi phí nhập sữa bột gầy. Trong cơ cấu giá thành sữa tƣơi hoàn nguyên , chi phí ngoại tệ cũng chiếm khoảng gần 76%. Đăc biệt, chi phí bao Formatted: Position: Horizontal: Center, bì của sản phẩm sữa tƣơi chiếm tới 62,5% chi phí chế biến của Vinamilk. Đối Relative to: Margin 7 với các liên doanh nƣớc ngoài , những tỷ lệ này còn cao hơn.
Mục tiêu nội địa hóa bao bì cũng có thể sẽ là một biện pháp làm giảm giá thành sản phẩm của ngành sữa. Đến tháng 10/2002, Việt Nam có 54.345 con bò sữa, tăng gấp hơn 6,7 lần so với năm 1986 (7.975 con), và tốc độ tăng đàn bò sữa so với năm 2001 là 31,29%. Trong giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng trƣởng của đàn bò sữa đạt 11,7%/năm. Trên 93% đàn bò sữa đƣợc nuôi trong hộ gia đình, quy mô từ 3 đến 10 con.
Có một số hộ nuôi trên 30 con. Hầu hết các nông trƣờng thuộc sở hữu nhà nƣớc chuyên chăn nuôi bò sữa đã thực hiện hình thức khoán cho các hộ thông qua hợp đồng kinh tế-kỹ thuật, nông trƣờng chỉ đảm nhận dịch vụ kỹ thuật, thú y và thu mua toàn bộ sản phẩm sữa tƣơi để chế biến. Năng suất sữa hiện nay của giống bò sữa lai đã có ở Việt Nam đạt bình quân 3. Cá biệt có con đạt 6.
Tuy nhiên năng suất này thấp hơn rất nhiều so với các nƣớc có truyền thống chăn nuôi bò sữa. Phân theo năng suất sữa bò, trên thế giới thƣờng chia làm ba nhóm: Nhóm có năng suất cao, nhóm trung bình và nhóm kém. Nhóm có năng suất cao là các nƣớc Mỹ, Nhật, Canada, Nauy, Thuỵ sĩ và một số nƣớc EU, nhóm trung bình là Úc, Hungary, Czech.; Việt Nam gần nhƣ đứng ở tốp cuối của nhóm có năng suất kém. Đặc điểm về quy trình sản xuất, công nghệ chế biến và đặc tính của sản phẩm Trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trƣờng, hầu hết các cơ sở sản xuất lớn của ngành sữa Việt Nam đều nỗ lực để có đƣợc những trang thiết bị công nghệ tiên tiến của thế giới.
ở Công ty Sữa Việt Nam, phần lớn các nhà máy thành viên đều đƣợc trang bị các dây chuyền sản xuất thông qua liên kết với các công ty nổi tiếng của EU và Mỹ (nhƣ Tetrapak, APV), chỉ duy nhất một dây chuyền vỏ lon 99 của Nhà máy Dielac là dùng thiết bị của Việt Nam Formatted: Position: Horizontal: Center, Relative to: Margin 8 (mới đƣợc đƣa vào sử dụng trong năm 2002). Hầu nhƣ tất cả các thiết bị của Vinamilk đều mới đƣợc sử dụng, một số đƣợc trang bị từ năm 1989, số còn lại đƣợc trang bị từ năm 1996 trở lại đây và thuộc thế hệ thiết bị mới của thế giới (ngoại trừ lò hơi 3,4 tấn/h của Nhà máy Dielac đã sử dụng từ năm 1973). Các công ty liên doanh với nƣớc ngoài cũng đƣợc đầu tƣ trang thiết bị hiện đại. Nhƣ vậy, ngành sữa Việt Nam là một trong số ít ngành công nghiệp ở nƣớc ta có trang thiết bị và công nghệ đạt trình độ tiến tiến trên thế giới.
Với công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại, các sản phẩm đảm bảo chất lƣợng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Sản phẩm của Công ty Sữa Việt Nam đƣợc các cơ quan chuyên trách trong và ngoài nƣớc xác nhận về chất lƣợng( Vinacontrol, Viện Kiểm tra Đo lƣờng chất lƣợng của áo ) Tuy nhiên về tổng thể, Việt Nam chƣa xây dựng đƣợc bộ tiêu chuẩn hoàn chỉnh cho các sản phẩm sữa từ sữa nguyên liệu xuất nhập khẩu đến sữa thành phẩm. Việc quản lý của Nhà nƣớc về mặt tiêu chuẩn chƣa chặt chẽ và còn tuỳ thuộc vào cách làm của từng công ty. Nhìn chung, các đơn vị sản xuất lớn trong ngành đều trang bị các máy phân tích đo lƣờng tiên tiến và hiện đại, nên việc quản lý chất lƣợng sản phẩm khi sản xuất và cả trong quá trình tiêu thụ, về cơ bản đáp ứng đƣợc nhu cầu.
Các đại lý tiêu thụ , các quầy giới thiệu sản phẩm của Vinamilk, của Công ty giống bò sữa Mộc Châu không đƣợc phép bán các sản phẩm sữa đã mãn hạn sử dụng và những sản phẩm hết hạn sử dụng này đều đƣợc thu hồi về nơi sản xuất. Đặc tính của thị trường. Thị trƣờng sữa ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng về chủng loại sản phẩm và chất lƣợng hàng hóa.