phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về hoạt động kinh doanh thẻ và phân tích năng lực cạnh tranh hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM. Chƣơng 2: Phân tích năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh thẻ tại NHTMCP Hàng hải Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh thẻ tại NH TMCP Hàng hải Việt Nam. 4 z CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THẺ VÀ PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NHTM 1.1 Khái niệm - lịch sử hình thành và phát triển thẻ Hiện nay, thẻ cùng các tính năng hiện đại ngày càng xâm nhập sâu vào đời sống và gắn liền với các hoạt động thanh toán, tài chính của KH; các NH nhận biết tầm quan trọng và vai trò của thẻ trong việc phát triển mạng lƣới và các hoạt động tài chính khác; do đó các NH đều có các chiến lƣợc và chính sách đầu tƣ cân đối cho hoạt động thẻ, đƣa dịch vụ thẻ trở thành một mũi nhọn trong cạnh tranh trên thị trƣờng NH.
Nghiên cứu về thẻ, có nhiều tổ chức/nhà nghiên cứu đƣa các khái niệm về thẻ. Trong Quy chế phát hành và thanh toán thẻ NH ban hành kèm theo Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN ngày 19/10/1999, thẻ đƣợc định nghĩa: Thẻ là công cụ thanh toán do NH phát hành thẻ cấp cho KH sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa NH phát hành thẻ và chủ thẻ. Trên hệ thống bách khoa toàn thƣ mở thì lại đƣa ra khái niệm về thẻ là một loại thẻ theo chuẩn ISO7810, bao gồm thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, dùng để thực hiện các giao dịch tự động nhƣ kiểm tra tài khoản, rút tiền hoặc chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, mua thẻ điện thoại… từ máy rút tiền tự động (ATM); loại thẻ ngày cũng đƣợc chấp nhận nhƣ một phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt tại các điểm thanh toán có chấp nhận thẻ. Tuy nhiên đến năm 2007 khái niệm về thẻ đƣợc định nghĩa ngắn gọn đtrong Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ NH ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ- NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc NHNN nhƣ sau: “thẻ là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”.
5 z Nhƣ vậy, dựa trên khái niệm về thẻ đã đƣợc đƣa ra, ta có thể “gộp” lại và hiểu: Thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do NH hay các tổ chức tài chính phát hành và cung cấp cho KH dùng để thực hiện các giao dịch tài chính. Các KH có thể dùng thẻ để rút tiền và thực hiện nhiều dịch vụ tài chính khác nhƣ chuyển tiền, in sao kê… tại các máy ATM (Automated Teller Machine hoặc Automatic Teller Machine) hoặc sử dụng để thanh toán hàng hóa – dịch vụ tại các điểm POS (Point of Sale), hoặc thực hiện các giao dịch thƣơng mại điện tử trên mạng internet… Bởi những yêu cầu về sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật, sản phẩm thẻ mới đƣợc ra đời và phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20 cho tới nay. Lịch sử ra đời và phát triển của thẻ đƣợc tóm tắt qua các mốc sau: - Năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ cho ra mắt dịch vụ thanh toán trả chậm với những tấm thẻ kim loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện 2 chức năng: Giúp nhận diện, phân biệt KH và cung cấp - cập nhật dữ liệu về KH; - Năm 1924, Tập đoàn xăng dầu của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên; - 1958 American Express tham gia vào thị trƣờng thẻ NH và đƣa khái niệm thẻ Tín dụng trở nên phổ biến vào năm 1970; - Năm 1966 Bank of America trao quyền phát hành thẻ cho nhiều NH khác qua các hợp đồng đại lý, chính thức bắt đầu giai đoạn tăng tốc trong phát triển thẻ. Đồng thời trong năm này, tổ chức Interbank Card Association (ICA) tiền thân MasterCard ra đời, ban hành các quy định về cấp phép giao dịch, thanh toán bù trừ, các biện pháp marketing, bảo mật và các vấn đề liên quan tới luật pháp nhằm vận hành công việc một cách hiệu quả; - Năm 1977 thẻ Bank of America đƣợc chấp nhận toàn cầu và thẻ Visa ra đời.
Như vậy, thẻ NH ra đời từ nhu cầu thanh toán và phát triển dựa trên nền tảng công nghệ cũng nhƣ chiến lƣợc thay thế tiền mặt trong lƣu thông.Thẻ NH là một phát triển tất yếu trong lĩnh vực tài chính NH đồng thời đã và đang phản ánh đầy đủ 6 z những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và văn minh xã hội. Cùng với mạng lƣới thành viên và KH phát triển hàng ngày, các Tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ Đô la Mỹ mỗi năm, thẻ NH đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Đây là một thành công đáng kể đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển.2 Phân loại thẻ 1.1 Theo công nghệ sản xuất Thẻ đƣợc chia thành 3 loại chính: thẻ in nổi, thẻ từ và thẻ thông minh Thẻ in nổi (Embossed Card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ đƣợc khắc nổi các thông tin cần thiết.
Ngày nay loại thẻ này ít đƣợc sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, dễ bị làm giả, loại thẻ này hiện nay đƣợc sử dụng kết hợp với các công nghệ mới nhƣ thẻ từ, thẻ thông minh. Thẻ từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa đƣợc dập nổi ở mặt trƣớc của thẻ vừa đƣợc mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Các thông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Thẻ từ hiện nay đang chiếm phần lớn trong tổng số lƣợng thẻ đang sử dụng trên thị trƣờng.
Nhƣợc điểm của thẻ từ là số lƣợng các thông tin đƣợc mã hoá không nhiều và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn và có thể bị ăn cắp thông tin bằng các thiết bị nối với máy vi tính. Tuy nhiên, do giá thành rẻ nên thẻ từ thƣờng đƣợc sử dụng cho các giao dịch nội địa (khoảng 0,3-0,5 USD/thẻ). Thẻ thông minh (Smart card) đạt tiêu chuẩn EMV (Europay MasterCard Visa): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo nhƣ một máy tính hoàn hảo. Chip điện tử độc lập với thẻ và đƣợc gắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất gồm 2 loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ liệu.
Chip bộ nhớ lƣu trữ toàn bộ các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác thanh toán thẻ trong mỗi lần sử dụng còn chip xử lý dữ liệu có khả năng bổ sung, xoá bỏ hoặc điều chỉnh các thông tin trong bộ nhớ. Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu có khả năng vừa lƣu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thƣởng tích luỹ đồng thời lƣu trữ cả số liệu về những lần 7 z giao dịch của chủ thẻ tại ĐVCNT. Tính năng vƣợt trội này của thẻ thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với NH và các trung gian thanh toán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng nhƣ việc cập nhật thông tin liên quan tới thẻ giờ đây đã đƣợc thực hiện ngay tại ĐVCNT. Mặc dù công nghệ chip có tính bảo mật cao & hiện đại, tuy nhiên, để phòng chống tội phạm về thẻ, tổ chức thẻ quốc tế Master/Visa thay đổi tiêu chuẩn kỹ thuật chip 5 năm/lần, các NH thành viên cũng phải tham gia test chuẩn chip mới & sau khi đƣợc công nhận phải phát hành theo chuẩn chip hiện hành.
Tại Việt Nam, các NH hiện nay chủ yếu ứng dụng phát hành thẻ chip cho các thẻ quốc tế do chi phí sản xuất cao (khoảng 1,5-2 USD / thẻ).2 Theo tính chất thanh toán thẻ Theo tính chất thanh toán có thể chia thẻ thành 2 loại chính là thẻ ghi nợ (Debit card) và thẻ tín dụng (Credit card). Thẻ tín dụng (Credit card) là phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho ngƣời sử dụng khả năng chi tiêu trƣớc trả tiền sau. Tổ chức phát hành thẻ (thƣờng là các NH, tổ chức tín dụng) sẽ cấp cho chủ thẻ một hạn mức tín dụng nhất định dựa vào uy tín của của thẻ hoặc dựa vào tài sản thế chấp của chủ thẻ. Tại thời điểm KH thanh toán hàng hóa dịch vụ, NH sẽ đứng ra tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ và sau đó sẽ tiến hành thu hồi khoản tiền này từ KH sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa NH và chủ thẻ.
Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dƣ nợ của giao dịch thanh toán vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn đƣợc miễn lãi đối với số dƣ nợ cuối kỳ. Tuy vậy nếu hết thời gian này mà chủ thẻ vẫn chƣa thanh toán hoặc chƣa thanh toán hết dƣ nợ cuối kỳ cho NH thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi từ ngày thực hiện giao dịch đến ngày thanh toán hết dƣ nợ. Đối với các giao dịch rút tiền mặt tại ATM hay ứng tiền mặt tại POS, NH sẽ coi đây là một khoản vay của chủ thẻ và chủ thẻ sẽ bị tính phí & lãi ngay từ ngày phát sinh giao dịch đến ngày thanh toán hết dƣ nợ, lãi suất áp dụng cho cho các giao dịch sử dụng thẻ tín dụng thƣờng cao hơn nhiều lãi suất khoản vay thông thƣờng, vì vậy, thẻ tín dụng rất ít khi đƣợc dùng để thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền mặt, thƣờng đƣợc chủ thẻ ƣa thích dùng cho các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Sau khi thanh 8 z toán hết dƣ nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ đƣợc khôi phục nhƣ ban đầu.
Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng. Thẻ ghi nợ (debit card): Thẻ ghi nợ là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép KH sử dụng số dƣ tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến.