Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Định Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Chỉ nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Định 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nếu như trước đây thu nhập chủ yếu của các ngân hàng thương mại là từ hoạt động tín dụng thì ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế, thu nhập từ những hoạt động dịch vụ hiện đại đã trở thành những nguồn thu nhập quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Tuy rằng thu nhập chính của các ngân hàng thương mại vẫn từ hoạt động tín dụng nhưng cơ cấu thu nhập này có xu hướng thay đổi dần theo hướng giảm tỉ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng và tăng tỉ trọng nguồn thu nhập từ các hoạt động dịch vụ khác. Trong số đó có hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Tuy nhiên, cũng như các hoạt động kinh doanh khác, kinh doanh ngoại tệ cũng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng có khả năng gây mắt mát lớn nếu các Ngân hàng không có các giải pháp phòng ngừa và quản lý hợp lý. Nếu các rủi ro này tác động quá mà mức độ tác hại của nó làm dẫn đến sự sụp đỗ của Ngân hàng thì tác động không dừng ở đó mà nó còn lây lan ra toàn hệ thống Ngân hàng, toàn bộ nên kinh tế, hệ thống chính trị - xã hội. Để hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ, các Ngân hàng thương mại phải luôn cập nhật, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ, nhận định xu hướng biến động của thị trường. Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã dành được nhiều sự quan tâm và đánh giá của nhiều học giả.
Luận văn sử dụng một số kết quả nghiên cứu dưới đây làm nền tảng lý luận và chứng minh cho những nhận định trong luận văn. Cụ thể như sau: - “Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP Công thương - Chỉ nhánh Đà Nẵng” Tuyên tập báo cáo sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng, SVTH: Trần Thị Thảo Nhi, GVHD: PGS TS Lam Chí Dũng; bằng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và phương pháp tông hợp đã tìm hiểu thực trạng KDNT của 1 chỉ nhánh Ngân hàng ; tiềm năng phát triển các sản phẩm hối đoái phái sinh và rút ra một số kết luận như sau: + Việc sử dụng các sản phẩm hối đoái phái sinh còn gặp rất nhiều hạn chế + Nguyên nhân chính: là do tỷ giá trong 3 năm 2007,2008,2009 ít biến động và doanh nghiệp không am hiểu lắm về sản phẩm này. + Điều mà doanh nghiệp mong muốn nhất ở một ngân hàng là nâng cao sự hiểu biết của chính họ, đồng thời tạo điều kiện cho họ sử dụng sản phẩm phái sinh + Sau khi thỏa mãn các mong đợi của doanh nghiệp thì nhu cầu sử dụng sản phẩm là khá cao Các kết quả này rất có ý nghĩa với luận văn, là thông tin giúp thực hiện việc khảo sát đối với các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định để kiểm chứng lại các kết quả của nghiên cứu trên; đồng thời đưa ra các kiến nghị đề xuất phù hop cho dé tài. - * Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín Chỉ nhánh Đà Nẵng'; Tuyên tập báo cáo sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng, SVTH: Nguyễn Thị Thu Dung, GVHD: TS Võ Thị Thúy Anh; Dựa vào quan m duy vật biện chứng, đồng thời kết hợp với phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp để giải quyết vấn đề.
Đề tài đã đưa ra các nhóm giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM, bao gồm: + Nhóm giải pháp vĩ mô: xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh; nới lỏng vai trò điều hành của Nhà nước vào thị trường; cải cách tỷ giá theo hướng tự do hóa; hoàn thiện chế độ quản lý ngoại hối, phát triển thị trường vốn. + Nhóm giải pháp vi mô: gồm các giải pháp chiến lược về con người, công nghệ, quy trình, chính sách khách hàng; và các giải pháp bổ trợ: Mở rộng mạng lưới thu đồi ngoại tệ; mở rộng hoạt động kiều Các nhóm giải pháp này đã tạo tiền đề cho luận văn trong việc nghiên cứu, đề xuất và hoàn thiện các nhóm giải pháp cho đề tài. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HOAT DONG KINH DOANH NGOAI TE CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. TONG QUAN VE HOAT DONG KINH DOANH NGOAI TE CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngoại tệ (KDNT) Cho đến nay, có thể nói KDNT là một trong những hoạt động không thé thiếu được của NHTM. Sự tồn tại và phát triển của NHTM gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hoạt động KDNT. Sự phát triển của hoạt động KDNT không chỉ mang lại lợi nhuận cho NHTM mà còn giúp NHTM khẳng định vị thế của mình trên thị trường trong và ngoài nước. KDNT được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm việc mua bán ngoại tệ, đảm.
bảo dn định số dư tài khoản kinh doanh ngoại hồi tại nước ngoài, tạo nguồn vốn ngoại tệ và cho vay ngoại tệ, tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau. Đây là nghiệp vụ khá phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tế. Do phạm vi rộng của nghiệp vụ KDNT nên việc đề cập đến tắt cả các nội dung nói trên là rất khó thực hiện trong phạm vi bài luận văn này. KDNT được hiểu theo nghĩa hẹp ở đây là việc mua bán các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu ngoại tệ ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận trực tiếp thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau Như vậy, Ngân hàng thực hiện việc kinh doanh ngoại tệ để thu lợi cho ngân hàng và cũng là cung cấp dịch vụ tài chính cho một nền kinh tế khi ngân hàng đứng ra thu mua hay bán các loại ngoại tệ Ngoại tệ ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp không giống như ngoại hối bao gồm tắt cả các đồng tiền khác nhau hay các ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý, các phương tiện thanh toán quốc tế như hối phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá.mà chỉ là tiền tệ của các nước khác nhau sau đây gọi chung là ngoại tệ.
Đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại tệ Thứ nhất, hoạt động KDNT gắn chặt với các hoạt động thương mại quốc. Thứ hai, hoạt động KDNT là hoạt động chứa nhiều rủi ro, các loại rủi ro cơ bản thường xuyên gặp trong KDNT là rủi ro lãi suất và tỷ giá. Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền các nước luôn biến động trên thị trường do nhiều nguyên nhân như cán cân thanh toán, chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình kinh tế, chính sách xã hội của mỗi nước. việc biến có thay đổi là khó lường trước được chính xác nên dẫn đến việc MBNT của các NH gặp rủi ro, thậm chí là rủi ro rat lớn.
So với rủi ro về tỷ giá thì rủi ro về lãi suất ít có ý nghĩa hơn, nhưng với khối lượng ngoại tệ kinh doanh lớn thì cũng tạo ra những thiệt hại lớn, đáng quan tâm. Trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở các nước ta các nghiệp vụ còn đơn giản, chủ yếu là các nghiệp vụ giao ngay, nghiệp vụ kỳ hạn và phái sinh (hoán đồi, quyền chọn) thì ít sử dụng hơn nên chưa ảnh hưởng rõ nét. Thứ ba, hoạt động KDNT là một hoạt động rất phức tạp, đặc trưng của nên kinh tế hiện đại, vì vậy để thực hiện hoạt động KDNT đòi hỏi phải có cơ sở vật chất hiện đại và con người. Thứ tư, hoạt động KDNT gắn chặt với tỷ giá.Tỷ giá phản ánh biến động của các loại ngoại tệ nên đề thực hiện thành công hoạt động này cần theo sát các biến động tỷ giá trên thị trường ngoại tệ quốc tế.
Tóm lại, KDNT là nghề rất khắt khe, đòi hỏi nhà kinh doanh phải có chuyên môn trong nhiều lĩnh vực, phải có kỹ năng nhất định, có trình độ quản lý, phân tích, phán đoán thị trường, diễn biến tình hình kinh tế chính trị một cách thường xuyên để rủi ro trong hoạt động KDNT thấp nhất. Vai trò của hoạt động KDNT a. Vai trò của hoạt động KDIVT với nền kinh tế - Chuyển đổi sức mua tiền tệ từ một quốc gia này sang một quốc gia khác đề cung cấp kịp thời để cung cấp kịp thời các loại ngoại tệ phục vụ nhu cầu thanh toán trong tat cả các lĩnh vực thương mại và phi thương mại quốc tế. Tăng cường các nguồn dự trữ ngoại tệ cho các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các công ty đa quốc gia.
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ với các hình thức phong phú còn có thê tao ra môi trường kinh doanh én định cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Vai trò cña hoạt động KDAXT với NHTM. Quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu diễn ra càng mạnh mẽ, sự cạnh tranh. giữa các ngân hàng càng gay gắt thì vai trò KDNT càng quan trọng với các NHTM: - Đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng: KDNT thông qua việc mua bán để hưởng chênh lệch tỷ giá hay thông qua việc đầu cơ dựa trên những dự báo về biến động lãi suất có thể đem lại những lợi nhuận đáng kể cho Ngân hàng.
~ Mở rộng hoạt động của Ngân hàng thông qua việc thúc đây và tai trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Nếu một Ngân hàng không có đủ trạng thái ngoại tệ cần thiết hay không huy động đủ lượng ngoại tệ cần thiết thì khó có thể giúp các doanh nghiệp thanh toán hay làm ngân hàng chiết khấu, ngân hàng đại lý trong phương thức tín dụng chúng từ. ~ Giúp Ngân hàng phòng chống rủi ro và tăng tính cạnh tranh. Thực hiện hoạt động KDNT là một cách thức đa dạng hóa hoạt động kinh doanh ngân hàng nhằm phân tán rủi ro cũng như đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng nhằm phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tăng khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường.
CÁC PHƯƠNG THỨC KINH DOANH NGOẠI TỆ CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ giao ngay (Spot) a.