CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ GIAO DỊCH NGOẠI HỐI 1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 1. Khái niệm về thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối hay thị trường hối đoái ngoại tệ (tiếng Anh là Foreign Exchange Market, viết tắt là FX hay Forex) là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá như ngoại tệ. Hay nói một cách ngắn gọn, thị trường ngoại hối là một mạng lưới toàn cầu của những người mua và người bán ngoại tệ.
KD ngoại hối của NHTM là hoạt động mua bán các loại ngoại hối của NHTM đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối của NHNN và đảm bảo hiệu quả trong KD. Đối tượng tham gia thị trường ngoại hối 1.1 Chính phủ Chính phủ các nước nhiều khi cũng phát sinh nhu cầu về ngoại tệ, chẳng hạn như dùng để trả lương và chi phí cho các đại sứ ở nước ngoài hoặc dùng để chi viện trợ phát triển công nghiệp, nông nghiệp cho các nước khác, v. Thông thường chính phủ tiếp cận thị trường ngoại hối thông qua ngân hàng trung ương hoặc một ngân hàng thương mại. Ngoài ra một lý do nữa khiến chính phủ phải tham gia vào thị trường ngoại hối là vì tỷ giá hối đoái là một trong những mối quan tâm lớn của chính phủ.
Những thay đổi trong tỷ giá hối đoái có tác động đến giá trị của hàng hóa và các công cụ tài chính.2 Các ngân hàng Ngân hàng Trung ương. NHTW tham gia vào thị trường ngoại hối với vai trò truyền thống là người điều tiết mỗi khi thị trường xảy ra hiện tượng dư thừa, mất ổn định hoặc có dấu hiệu của những hiện tượng trên. NHTW thực hiện vai trò của mình bằng việc tác động trực tiếp lên giá trị đồng bản tệ, lượng cung cầu ngoại tệ thông qua các NHTM, nhà môi giới, thị trường giao dịch tương lai hoặc qua NHTW của các nước khác. 123doc 4 Ngân hàng thương mại Các ngân hàng khác không phải là NHTW (gọi chung là NHTM) tham gia vào thị trường ngoại hối có thể phân chia thành một số hình thức cơ bản như sau: Ngân hàng thương mại (commercial bank) Ngân hàng địa phương hay ngân hàng đại lý (regional or correspondent bank) Ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn (investment and merchant bank) Tuy các hình thức NHTM này có các vai trò và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau tuy nhiên, tựu trung lại vẫn nhằm vào hai mục đích chính là KD ngoại hối và cung cấp các dịch vụ liên quan đến ngoại hối, làm trung gian cho các KH.3 Các nhà môi giới Các nhà môi giới trên thị trường hối đoái tồn tại trước hết là để mang người mua và người bán lại với nhau tại một mức giá được cả hai bên chấp thuận.
Nhà môi giới không được phép giữ một vị trí (bên mua, bên bán) nào trên thị trường tiền tệ và phải hoạt động như một như một người liên lạc đơn thuần. Với dịch vụ môi giới, họ sẽ nhận được một khoản hoa hồng từ cả hai bên khi giao dịch được thực hiện, mức hoa hồng sẽ tùy thuộc vào khối lượng giao dịch và tùy thuộc trung tâm giao dịch. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, việc sử dụng những nhà môi giới thực đang có xu hướng giảm dần do sự phát triển của nhiều hệ thống môi giới điện tử liên ngân hàng.4 Các định chế tài chính và các công ty Các định chế tài chính bao gồm những tổ chức như quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, các công ty cho thuê tài chính, quỹ KD tiền tệ, v.v… Trong đó quỹ KD tiền tệ được xem là một chủ thể hoạt động tích cực trên thị trường ngoại hối, các quỹ này hoạt động trên danh nghĩa của các khách hàng của mình nhưng lại thực hiện hoạt động KD ngoại hối bằng chính tài khoản của quỹ. Các định chế tài chính khác thường không trực tiếp tham gia KD ngoại tệ nhưng với mức độ quốc tế hóa ngày càng cao trong hoạt động kinh tế, các tổ chức này đương nhiên trở thành một chủ thể của thị trường ngoại hối.
123doc 5 Các công ty, có thể được xem là những người sử dụng cuối cùng của thị trường ngoại hối. Chỉ ngoại trừ trường hợp có sự tham gia của NHTW vào thị trường để trực tiếp điều chỉnh tính thanh khoản của thị trường, các công ty chính là chủ thể có tác động lớn đến cung và cầu thị trường. Những chủ thể khác tham gia vào thị trường để mua và bán ngoại tệ không phải vì nhu cầu mà vì mục đích lợi nhuận, trong khi đó, các công ty tham gia vào thị trường chủ yếu xuất phát từ nhu cầu bù trừ những thiệt hại về tiền tệ, thay đổi tính thanh khoản của những đồng tiền đang được sử dụng trong giao dịch buôn bán.5 Khách hàng lẻ Cùng với các định chế và các công ty như vừa xét ở trên, tham gia vào thị trường ngoại hối còn có những KH lẻ với khối lượng giao dịch không quá lớn. Danh mục những KH lẻ này bao gồm những công ty nhỏ, những quỹ bảo hộ giá, nhà đầu cơ, nhà KD chênh lệch tỷ giá, những công ty chuyên môn hóa về những dịch vụ đầu tư được liên kết với những quỹ ngoại tệ, sự cung cấp tài chính của những chương trình viện trợ được thực hiện bởi những tổ chức từ thiện có đăng ký trên toàn thế giới và những cá nhân, hộ gia đình riêng lẻ.
Đặc điểm của thị trường ngoại hối 1.1 Thị trường ngoại hối là thị trường toàn cầu, hoạt động không ngừng, các giao dịch diễn ra 24/24 giờ Trái ngược hoàn toàn với thị trường chứng khoán cần phải có một địa điểm địa lý cụ thể, thị trường ngoại hối không có biên giới, đặc điểm này có thể được hiểu như việc chỉ có một thị trường ngoại hối trên toàn thế giới. Các giao dịch tiền tệ diễn ra hoàn toàn giống nhau và đồng thời ở Paris, Tokyo, London hay New York. Cũng bởi bản chất toàn cầu đó, thị trường ngoại hối là một tổ chức kinh tế không có quy định riêng, nó được tự tổ chức bởi những tổ chức và cá nhân tham gia thị trường. Thị trường ngoại hối được giao dịch 24h một ngày và không bị giới hạn bởi thời gian giao dịch cố định.
Thị trường ngoại hối cũng có chi phí gia nhập thị trường thấp, một nhà đầu tư có thể mở một tài khoản và tham gia giao dịch với chỉ 250 đô la.2 Tính tập trung của thị trường ngoại hối Tính tập trung của thị trường ngoại hối thể hiện ở chỗ thị trường này bị chi phối bởi một vài mạng lưới tài chính. Năm 1998, 32% giao dịch được thực hiện tại nước Anh, Mỹ chiếm 18%, xếp thứ ba là Nhật Bản với 8%. Theo ước tính của Shani Shamah, năm 2003, có đến 84% giao dịch ngoại hối được thực hiện tại các trung tâm giao dịch ở Anh, Mỹ và Nhật Bản. Ngoài ra, còn có một số trung tâm giao dịch nhỏ hơn phân bố ở các phần khác của thế giới như ở Zurich, Franfurt và Singapore.
Tính tập trung của thị trường ngoại hối còn thể hiện ở việc hầu hết các giao dịch ngoại hối tập trung ở một số rất ít đồng tiền mạnh như USD, EUR, JPY, GBP,., trong đó đồng USD chiếm vị trí áp đảo được xem là đồng phương tiện. Có sáu loại tiền tệ chính được giao dịch trên thị trường ngoại hối hiện nay (cùng với đồng phương tiện là USD), đồng bảng Anh (GBP), đô la Canada (CAD), đô la Úc (AUD), yên Nhật (JPY), đồng tiền chung châu Âu (EUR) – Euro, đồng France Thụy Sĩ (CHF).1: Tỷ trọng các cặp tiền tệ trong giao dịch ngoại hối 26% 27% 4% 5% 4% 19% 15% EUR/USD USD/JPY GBP/USD USD/CHF USD/CAD AUD/USD All others Nguồn: A forex primer, page 36, 37 http://www.com/business- news/foreign-exchange-market-definitions-and-characteristics/) 123doc 7 1.3 Là thị trường nhạy cảm với các sự kiện kinh tế, chính trị Xuất phát từ tính toàn cầu, tính phi tập trung của mình mà thị trường ngoại hối, cụ thể hơn là tỷ giá giao dịch giữa các loại tiền tệ trên thị trường rất nhạy cảm với những yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội, chiến tranh, thiên tai… và cả yếu tố tâm lý. Các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường ngoại hối 1.1 Nghiệp vụ giao ngay (Spot) Giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch mua, bán một lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán. Tùy theo tập quán KD và điều kiện thị trường từng nước, có thể niêm yết tỷ giá theo nhiều cách khác nhau.
Nhưng nhìn chung có hai cách niêm yết giá trên thị trường giao ngay dành cho hai đối tượng KH khác nhau. Cách yết giá theo kiểu Mỹ và kiểu Âu dành cho KH là NH khác trên thị trường liên NH. Cách yết giá trực tiếp và gián tiếp dành cho KH thông thường, tức KH không phải là NH. Trên thị trường hối đoái giao ngay thường diễn ra quan hệ mua bán ngoại tệ giữa NH và KH.
Các NH thường không thu phí giao dịch mà sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua để trang trải chi phí giao dịch và thu lợi nhuận thỏa đáng. Chênh lệch giá mua và giá bán của một ngoại tệ cao hay thấp tùy thuộc vào phạm vi giao dịch hẹp hay rộng và mức độ biến động giá trị của ngoại tệ đó trên thị trường. Để có thể so sánh với các loại chi phí giao dịch khác, chênh lệch tỷ giá bán và tỷ giá mua thường được xác định theo tỷ lệ phần trăm qua công thức sau: Tỷ giá bán - Tỷ giá mua Chênh lệch (%) = __________________________________ x 100 Tỷ giá bán Ví dụ chúng ta có tỷ giá GBP/USD = 1,4229 – 1,4246. Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán mà KH phải chịu khi mua bán ngoại tệ với NH: 1,4246 - 1,4229 Chênh lệch (%) = ______________________ x 100 = 0,12% 1,4246 123doc 8 Các ngoại tệ có thị trường giao dịch tương đối rộng như USD, GBP, EUR, JPY thường có chênh lệch giá mua bán ở mức 0,1% đến 0,5% trong khi các ngoại tệ mà thị trường giao dịch hẹp hơn có mức chênh lệch giá cao hơn nhiều.
Lý do là NH sử dụng chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua vào các mục đích như phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá ngoại tệ mua vào hoặc bán ra, bù đắp chi phí giao dịch và cuối cùng là kiếm lợi nhuận thỏa đáng.