Chương 1: Giới thiệu Mục tiêu và bối cảnh 19. Mục tiêu của báo cáo này nhằm cung cấp thêm thông tin cho Chính phủ Việt Nam để thực hiện hiệu quả hơn các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân trong nước1 và tăng cường hiệu ứng lan tỏa và liên kết của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Báo cáo này nằm trong khuôn khổ chính sách phát triển Công nghiệp Hỗ trợ (CNHT) của Chính phủ nhằm nâng cao năng lực và công nghệ của các doanh nghiệp trong nước nhằm tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp liên Hộp 1: Cchương trình phát triển công kết với FDI cũng như giúp họ thâm nhập các thị nghiệp hỗ trợ (CNHT), 2016-25 trường nước ngoài (xem dưới đây).2 Đạt được sự tiến Hỗ trợ doanh nghiệp trong các linh vực bộ trong các lĩnh vực này được coi là một phần không chính: thể thiếu cho tham vọng của Việt Nam trong việc mở • Phát triển các nhà cung cấp cho khách rộng sự tham gia của vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) hàng trong và ngoài nước. cũng như chuyển dịch trong chuỗi giá trị tới các hoạt • Áp dụng hệ thống quản lý phù hợp với động có giá trị gia tăng cao hơn.
yêu cầu của GVC trong quản trị doanh nghiệp và sản xuất. Hiệu ứng lan tỏa của FDI – tăng năng suất từ • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyển giao kiến thức và công nghệ từ các nhà đầu cho SI thông qua đào tạo. tư nước ngoài sang nền kinh tế địa phương – được • Nghiên cứu và phát triển, chuyển giao coi là đầu vào có giá trị nhất cho tăng trưởng và công nghệ sản xuất phụ tùng, phụ kiện, phát triển. Như nhiều nước trong khu vực, Việt Nam nguyên vật liệu.
thu hút FDI với mong muốn công nghệ mới, kỹ năng • Xây dựng cổng thông tin SI. quản lý cao, cơ hội tiếp cận thị trường mới từ các tập đoàn đa quốc gia (MNE) lan tỏa sang các doanh Nguồn: Quyết định về chương trình SI, ngày 18 tháng 01 năm 2017, Chính phủ nghiệp trong nước, dẫn đến cải thiện năng suất của. các doanh nghiệp này. Phần lớn lợi ích năng suất tăng đến từ liên kết dọc giữa MNE/công ty đầu chuỗi và các công ty trong nước theo chuỗi cung cấp.3 Thực tế, sự xuất hiện của các nhà cung cấp trong nước cho các MNE là yếu tố quan trọng cho phép các nước Đông Nam Á khác Source: Decree 111 on Supporting industries, November – như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore – dịch chuyển lên 2015nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị.
Trọng tâm của nghiên cứu này là về các mối liên kết chuỗi cung ứng phù hợp với khung chính sách của CNHT. 1 Doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 97,6% tổng số doanh nghiệp theo "Sách trắng về DNVVN Việt Nam năm 2014", do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014) xuất bản, Hà Nội: Nhà xuất bản Thông Kê, p. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa này có ít hơn 100 nhân viên trong các lĩnh vực thương mại và dịch vụ. 2 Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được định nghĩa là các ngành sản xuất nguyên liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho việc sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh.
Trong báo cáo này, chương trình CNHT và phát triển các liên kết thượng nguồn sẽ được sử dụng hoán đổi cho nhau. Cũng có thể lưu ý rằng nó bao gồm cả các nhà cung cấp nước ngoài và trong nước. Thuật ngữ "địa phương" và "các doanh nghiệp trong nước" cũng được sử dụng hoán đổi cho nhau như FDI, các công ty đa quốc gia và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. 3 Ngoài các chuỗi cung ứng – trọng tâm của nghiên cứu này – các cơ chế bổ sung mà qua đó FDI lan tỏa đến nền kinh tế địa phương bao gồm chuyển dịch lao động (tức là kiến thức của doanh nghiệp nước ngoài sẽ theo người lao động truyền tải đến doanh nghiệp địa phương khi người lao động đó chuyển sang làm cho doanh nghiệp địa phương ), và hiệu ứng cạnh tranh và cung cấp mô hình mẫu.
Những hạn chế về cung và thất bại của thị trường thường cản trở quá trình liên kết. Kinh nghiệm quốc tế và nghiên cứu lý thuyết cho thấy, mặc dù nhiều quốc gia đã thu hút FDI thành công, hiệu ứng lan tỏa thu được ở các quốc gia này không giống nhau do các thất bại của thị trường (Moran 2014). Quá trình liên kết là hàm tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm tiềm năng lan tỏa của FDI, năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước, cũng như chính sách kinh doanh và môi trường thể chế của nước sở tại.4 Đã có những nghiên cứu làm sắc nét hơn sự hiểu biết của chúng ta về các hạn chế và thất bại thị trường từ phía cung, gây cản trở tới liên kết ở Việt Nam. Một nền tảng phong phú các nghiên cứu về khu vực tư nhân của Việt Nam đã được thiết lập trong những năm gần đây.
Một số công trình nghiên cứu quan trọng được thực hiện ở Việt Nam5 đã đưa racái nhìn nhất quán về thách thức cạnh tranh cấp doanh nghiệp và bản chất liên kết FDI ở Việt Nam. Một số kết luận chính nhấn mạnh trong những nghiên cứu này bao gồm:6 • Khu vực tư nhân trong nước bị ảnh hưởng từ suy giảm tăng trưởng lao động và năng suất tổng (TFP) kể từ đầu thế kỷ 21, thể hiện ở việc đảo chiều từ tăng trưởng nhanh chóng của những năm 1990 và giảm triển vọng tăng trưởng trong tương lai. Mặc dù doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng về số lượng và ngày càng thâm dụng vốn hơn, từ giữa những năm 2000 vẫn có những quan ngại về khả năng họ có thể phát triển lớn hơn và đạt được hiệu quả kinh tế về quy mô theo thời gian. Đặc biệt, sự thiếu năng động của các ngành dịch vụ đã được nhấn mạnh.
• Một sân chơi với lợi thế nghiêng về doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có quan hệ thân quen, hay sở hữu nước ngoài, cùng với môi trường kinh doanh kém thuận lợi (như các quy định về kinh doanh, dịch vụ căn bản và cơ sở hạ tầng còn hạn chế) làm suy yếu nghiêm trọng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, bất kể quy mô. • Hầu hết doanh nghiệp nội địa không đủ năng lực để liên kết với công ty nước ngoài đáp ứng yêu cầu của họ về chất lượng, giá cả và độ tin cậy, và để tiếp nhận kiến thức và công nghệ mới. Doanh nghiệp không đủ năng lực đổi mới và có kỹ năng hạn chế là trở ngại chính cho liên kết. Các doanh nghiệp thường đầu tư hướng đến duy trì hoặc tăng năng lực sản xuất, nhưng ít khi hướng đến cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa, cũng như đổi mới.
Báo cáo này tập trung vào việc hiện thực hóa chương trình nghị sự phát triển liên kết FDI ở Việt Nam. Trên cơ sở các phân tích từ các nghiên cứu nói trên, báo cáo đánh giá các kinh nghiệm quốc tế, trong nước và đề xuất các chính sách và chương trình hỗ trợ khả năng cạnh tranh và liên kết ở Việt Nam. 4 Khung này được xây dựng dựa trên công trình của Farole T. Winkler (WB, 2012); Paus and Gallagher, 2008.
5 Những công trình này bao gồm: Việt Nam 2035 '(WB và Bộ KH&ĐT 2016),' Việt Nam trước những ngã rẽ' (World Bank 2016), Brandt et al. (2016), và Newman et al. Các nguồn dữ liệu bao gồm Dữ liệu điều tra Thống kê Công ty (GoV) và điều tra riêng lẻ, có từ năm 2000 đến đầu năm 2010. 6 Xem Phụ lục 1 để biết tóm tắt chi tiết hơn về các kết luận chủ yếu của các báo cáo và nghiên cứu gần đây, bao gồm cả 'Việt Nam 2035' (Ngân hàng Thế giới và Bộ KH & ĐT 2016), 'Việt Nam trước những ngã rẽ' (World Bank 2016), Brandt và cộng sự (2016), và Newman và cộng sự (2015).
Tieu luan Sự phù hợp với những ưu tiên chính sách và chương trình của Chính phủ Việt Nam 24. Nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với các ưu tiên chiến lược của Chính phủ liên quan đến phát triển khu vực tư nhân. Những ưu tiên này được đề cập cụ thể trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội Việt Nam 2011-2020, Báo cáo Tầm nhìn Việt Nam năm 2035, cũng như Báo cáo Chẩn đoán hệ thống Quốc gia năm 2016 (SCD) của Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam, trong đó nhấn mạnh nhu cầu tăng cường năng lực cạnh tranh, đặc biệt đối với khu vực tư nhân trong nước vì Việt Nam mong muốn tránh "bẫy thu nhập trung bình" và trở thành một nước công nghiệp hoá hiện đại. Bộ Công thương, cơ quan đầu mối về xây dựng năng lực của công nghiệp hỗ trợ Việt nam và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI)7 là một trong những đối tác chính của chương trình nghị sự này.
Kết luận từ nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin cho việc thiết kế và hỗ trợ thực hiện các chính sách và chương trình chính của Chính phủ Việt Nam nhằm phát triển khu vực tư nhân trong nước và tạo thuận lợi cho liên kết với doanh nghiệp nước ngoài. Một nghị định mới về công nghiệp hỗ trợ được ban hành cuối 2015, tiếp theo là một Quyết định của chính phủ về "Chương trình Phát triển Công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2016 – 2025", cụ thể hóa một số nội dung của Nghị định cũng được ban hành đầu 2017.8 Tài liệu thứ hai nêu ra các yếu tố chính của Chương trình nâng cao năng lực doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ tài chính, xúc tiến R&D, công nghệ và đổi mới. Hơn nữa, một luật về hỗ trợ DNVVN đã được ban hành để tăng cường hỗ trợ cho các DNVVN ở Việt Nam.9 Luật này xác định các lĩnh vực hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các cơ quan thực hiện10. Việc triển khai và thực hiện các chi tiết của các chương trình mới vẫn cần phải được xây dựng và với sự phối kết hợp của các chương trình của Chính phủ để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, có một giá trị rất lớn trong việc xác định những khoảng trống và bài học rút ra từ kinh nghiệm trước đây, cũng như để thúc đẩy kinh nghiệm quốc tế.
Cuối cùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thông qua Cục Đầu tư nước ngoài (FIA), đang trong quá trình xây dựng một Chiến lược Đầu tư mới và kế hoạch hành động thực hiện với sự hỗ trợ của Nhóm Ngân hàng thế giới (WBG).