CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, sự cạnh tranh không còn gói gọn trong phạm vi quốc gia mà nó vượt ra biên giới quốc tế. Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ các công ty, tập đoàn trên thế giới. Tận dụng lợi thế về thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, tiềm năng theo lộ trình giảm thuế tại các thị trường có FTAs với Việt Nam và mở rộng các thị trường tiềm năng.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế nhờ vào việc đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do đa tầng nấc. Đến nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do. Việc ký kết và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có tác động lớn đến doanh nghiệp (DN) Việt Nam thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, doanh thu xuất khẩu sang các nước đối tác sẽ tăng, củng cố thị trường truyền thống, khơi thông nhiều thị trường tiềm năng.
Tuy nhiên, DN Việt Nam cũng đứng trước thách thức cạnh tranh mạnh mẽ do cách giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết, đồng thời các ngành sản xuất trong nước chịu tác động trực tiếp của những biến động trên thị trường hàng hóa quốc tế. Nhờ khai thác tốt lợi thế chiều dài 305,4km bờ biển và sự đầu tư phát triển đúng hướng ngành thủy sản, tỉnh BR-VT đã trở thành một trong những trung tâm nghề cá lớn của cả nước với sản lượng hải sản khai thác gần 300 ngàn tấn/năm. Nhiều năm qua, ngành thủy sản của tỉnh đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp CBTSĐL cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Việc phát hiện, nuôi dưỡng và phát triển các nguồn lực tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững là yêu cầu tiên quyết của bất kỳ doanh nghiệp nào. Trong những ngành có đóng góp lớn nhất trong nước thì thủy sản là thế mạnh thứ hai sau dầu khí. Kinh tế thủy sản của tỉnh BR-VT dựa trên thủy sản vùng biển Đông Nam Bộ với trữ lượng khoảng 2 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng 800 ngàn tấn. Hải sản ngày càng được coi trọng và được coi là một loại thực phẩm có nhiều lợi ích dinh dưỡng (Trondsen, 2012).
Sản lượng thủy sản toàn cầu đã tăng lên trong 2 những thập kỷ qua và ước tính khoảng một nửa tổng sản lượng thủy sản thế giới được giao thương quốc tế (FAO, 2017). Chế biến là công đoạn cuối cùng trong chuỗi sản xuất của ngành thủy sản, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản trước khi đưa sản phẩm ra thị trường tiêu thụ. Những sản phẩm thủy sản chế biến không những phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn được xuất khẩu, mang về nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Ngành chế biến thủy hải sản hiện nay phát triển thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, với quy mô sản xuất hàng hóa lớn, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, AFTA, EFTA, EVFTA đã đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Sự kiện này đã đem lại những tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH, trong đó có lĩnh vực ngành thủy sản nói chung và doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh (DN CBTSĐL) BR-VT nói riêng. Các cam kết của Việt Nam với các tổ chức kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngành thủy sản cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được tham gia cung cấp các dịch vụ ngành thủy sản thông qua các hình thức liên doanh, góp vốn và phát triển một số dịch vụ chưa từng có trong nước. Điều này buộc DN CBTSĐL BR-VT phải nhận thức được các tác động tiềm ẩn, phải đối mặt với áp lực cạnh tranh không chỉ bởi các doanh nghiệp ngành thủy sản trong nước mà với cả các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và đặc biệt là kinh nghiệm trong quản lý.
Tận dụng lợi thế về thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, tiềm năng theo lộ trình giảm thuế tại các thị trường có FTAs với Việt Nam và mở rộng các thị trường tiềm năng. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế nhờ vào việc đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do đa tầng nấc. Đến nay, Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do. Việc ký kết và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có tác động lớn đến doanh nghiệp (DN) Việt Nam thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu.
Theo đó, doanh thu xuất khẩu sang các nước đối tác sẽ tăng, củng cố thị trường truyền thống, khơi thông nhiều thị trường tiềm năng. Tuy nhiên, DN Việt Nam cũng đứng trước thách thức cạnh tranh mạnh mẽ do cách giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết, đồng thời các ngành sản xuất trong nước chịu tác động trực tiếp của những biến động trên thị trường hàng hóa quốc tế. 3 Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ các công ty, tập đoàn trên thế giới. Tận dụng lợi thế về thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, tiềm năng theo lộ trình giảm thuế tại các thị trường có FTAs với Việt Nam và mở rộng các thị trường tiềm năng.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế nhờ vào việc đẩy mạnh mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do đa tầng nấc. Tuy nhiên, DN Việt Nam cũng đứng trước thách thức cạnh tranh mạnh mẽ do cách giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết, đồng thời các ngành sản xuất trong nước chịu tác động trực tiếp của những biến động trên thị trường hàng hóa quốc tế. Những tháng đầu năm 2022, tỉnh BR-VT ghi nhận sự tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm sản và thủy sản của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tháng 10/2022 đạt 42,19 triệu USD.
Lũy kế 10 tháng đầu năm đạt 546,14 triệu USD, đạt 6,01% kế hoạch năm, tăng 25,73%; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,04% so với tháng 12/2021 và tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước (Vũ Bảo , 2022). Hiện nay, các bộ, ngành, địa phương đã và đang triển khai quyết liệt nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), hướng tới phát triển nghề cá bền vững, tháo gỡ “thẻ vàng” sớm nhất.Công tác kiểm tra, giám sát tàu cá và sản lượng hải sản bốc dỡ tại cảng cá cơ bản đã được kiểm soát theo quy định. Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam- cho biết, gần 100 nhà máy chế biến hải sản đã tham gia cam kết sử dụng nguyên liệu chế biến được khai thác hợp pháp, đặc biệt là nhóm các doanh nghiệp (DN) chế biến, xuất khẩu cá ngừ. Trên thực tế DN thu mua hải sản rất khó xác định hải sản đó có vi phạm IUU hay không vì không có đủ cơ sở dữ liệu đáng tin cậy.
Nhiều trường hợp DN mua nguyên liệu, chế biến xong, nhưng khi làm hồ sơ xuất khẩu mới biết nguyên liệu vi phạm và không thể xuất khẩu. Do vậy, để chống khai thác IUU đồng bộ trong toàn chuỗi, cần có cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các Chi cục thủy sản địa phương, Ban quản lý các cảng cá và DN thu mua. Vẫn còn những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến việc gỡ “thẻ vàng” khi nghề cá Việt Nam là nghề cá truyền thống, quy mô nhỏ, số lượng tàu cá rất lớn. Sau 4 năm bị EC phạt “thẻ vàng”, hải sản Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường EU.
Các lô hàng xuất khẩu sang thị trường này sẽ bị kiểm tra 4 rất kỹ, gần như 100% hồ sơ liên quan đến truy suất nguồn gốc cũng như việc đảm bảo khai thác là hợp pháp. Vì vậy, nỗ lực của Việt Nam là phải gỡ được “thẻ vàng” trong thời gian sớm nhất, giúp hải sản Việt rộng đường xuất khẩu sang EU. Trong những năm qua, các DN CBTSĐL tỉnh BR-VT, các chuyên gia trong ngành cho rằng ngành thủy sản cần lột xác, thay đổi cách làm cũ manh mún, lạc hậu, tiến tới sản xuất quy mô lớn. Việc tăng cường sức cạnh tranh hàng chế biến thủy sản đông lạnh không chỉ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong tỉnh, tạo nhiều việc làm góp phần thực hiện chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu thay thế nhập khẩu có hiệu quả.
Do vậy, việc tìm hiểu thực trạng NLCT, tìm ra những nhân tố cần cải tiến thay đổi và nâng cao NLCT của DN CBTSĐL tỉnh BR-VT là cần thiết. Để phát triển bền vững trên thị trường trong và ngoài nước, các DN chế biến thủy sản đông lạng tỉnh BR-VT nên chú trọng vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Bởi vì theo Porter (2004), năng lực cạnh tranh giúp DN có thể đứng vững trên thị trường, mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho phép DN tạo ra và duy trì lợi nhuận trong môi trường thay đổi nhanh chóng (Abor J, Quartey P.
Trong những năm qua, các DN CBTSĐL tỉnh BR-VT không ngừng lớn mạnh nhưng vẫn còn nhiều điểm yếu, nhất là NLCT, các chuyên gia trong ngành cho rằng ngành thuỷ sản cần lột xác, thay đổi cách làm cũ manh mún, lạc hậu, tiến tới SX công nghiệp hiện đại, quy mô lớn (Lê Dăng Doanh, 2018). Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn vấn đề nghiên cứu: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thủy sản: Trường hợp nghiên cứu tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” làm nội dung nghiên cứu của luận án. Tuy nhiên vì tại tỉnh BR-VT đa số cá DN chế biến thủy sản đông lạnh, nên tác giả nghiên cứu sử dụng khảo sát số liệu về các doanh nghiệp CBTSĐL.